← Essays · 339 bài

Olfactory.

Practices nghệ thuật về mùi.


Sissel Tolaas. Smellscapes.

01 · 2004

Sissel Tolaas. Smellscapes.

Một thành phố có thể được vẽ lại bằng mùi. Sissel Tolaas đi từng con phố, thu từng mùi, rồi trả chúng về lên tường, lên giấy, lên bản đồ.

Ancient Splendor: Roman Art in the Time of Trajan.

02 · 2026

Ancient Splendor: Roman Art in the Time of Trajan.

Tượng cẩm thạch giờ trắng và lạnh. Rome thời Trajan thì không. Một triển lãm ở St. Louis mở những hộp mùi để nhắc điều đó.

Dana El Masri. From Memory to A Sign.

03 · 2026

Dana El Masri. From Memory to A Sign.

Tác phẩm từ 2009 đến 2026, những mảnh thiên nhiên nhặt ở nhiều nước. Dana El Masri xếp chúng lại để tìm xem quê nhà còn lại ở đâu.

Edgar Calel. Ch'ablin nu rayb'el Chua taj ab'ej.

04 · 2026

Edgar Calel. Ch'ablin nu rayb'el Chua taj ab'ej.

Ở phòng đầu tiên của Hammer Museum, Edgar Calel đổ những gò đất mùn, đặt đá tảng và để lại lễ vật. Căn phòng có mùi của núi quê ông sau cơn mưa.

Maki Ueda. Dog's Nose (Ars Electronica Version).

05 · 2026

Maki Ueda. Dog's Nose (Ars Electronica Version).

Một chú chó tên Wim, một thiết bị đo mùi, một giờ đi dạo ở Linz. Maki Ueda vẽ lại thành phố từ độ cao của một cái mũi.

Persephenie. Praying to the Gods.

06 · 2026

Persephenie. Praying to the Gods.

Persephenie đặt cây, mùi hương và trầm sát mặt đất. Muốn ngửi, người xem phải cúi, phải quỳ. Tôn kính bắt đầu từ đầu gối.

Racheal Crowther. HS Code 04022911.

07 · 2026

Racheal Crowther. HS Code 04022911.

Tường hồng, cửa sổ bị bít, một trạm y tế quân đội cũ. Và trong không khí, một mùi ngọt gợi da đầu trẻ sơ sinh, phát ra từ nơi không ai thấy.

Refik Anadol. Machine Dreams: Rainforest.

08 · 2026

Refik Anadol. Machine Dreams: Rainforest.

Không có một cái cây thật nào. Chỉ có hình chiếu, gương, âm thanh, và một mùi đất rừng ẩm toả ra từ thiết bị đeo trên cổ người xem.

Andrew O'Brien. Stringer's Ridge.

09 · 2025

Andrew O'Brien. Stringer's Ridge.

Một khu rừng không có đường chân trời, bị kim ngân phủ kín. Ống kính không chụp hết. Andrew O'Brien thử giữ nó bằng mùi.

AoA x IAO: I Smell LA.

10 · 2025

AoA x IAO: I Smell LA.

Một mùa hè thực tập thu lại thành một nốt hương. Mười một nốt đứng riêng, rồi ghép thành một mùi chung cho cả giới nghệ thuật Los Angeles.

Candice Lin. Vomit Clock.

11 · 2025

Candice Lin. Vomit Clock.

Một con quỷ gargoyle bằng gốm bơm mãi một dòng tinh chất thảo mộc qua miệng. Mùi ngọt, mùi đất, mùi của những cuộc thanh tẩy.

Cyrus Clarke. The Anemoia Device.

12 · 2025

Cyrus Clarke. The Anemoia Device.

Đưa vào một tấm ảnh film cũ. Vặn ba núm: góc nhìn, thời gian, tâm trạng. Cỗ máy trả lại một mùi cho ký ức không phải của bạn.

Delcy Morelos. El espacio vientre.

13 · 2025

Delcy Morelos. El espacio vientre.

Một căn phòng làm bằng đất ruộng ngô. Người xem bước vào như bước vào một lòng mẹ, và điều đầu tiên họ nhận ra là mùi.

Die geheime Macht der Düfte.

14 · 2025

Die geheime Macht der Düfte.

Kunstpalast Düsseldorf dựng triển lãm lớn đầu tiên của mình về lịch sử mùi hương, với khoảng ba mươi trạm mùi đặt ngay giữa bộ sưu tập nghệ thuật.

Francis Kurkdjian. Parfum, sculpture de l'invisible.

15 · 2025

Francis Kurkdjian. Parfum, sculpture de l'invisible.

Hoa hồng sứ toả mùi, một đài phun nước hoa uống được, một căn phòng quanh một chai nước hoa. Kurkdjian thử đặt mùi vào không gian như đặt tượng.

Goldie Poblador. The Rise of Medusa.

16 · 2025

Goldie Poblador. The Rise of Medusa.

Goldie Poblador treo chín hình thủy tinh gợi sứa và san hô trong một căn phòng màu nước sâu, rồi cho người xem đi qua ba mùi của biển: dầu loang, san hô chết, và một vùng còn xanh.

Haegue Yang. Lost Lands and Sunken Fields.

17 · 2025

Haegue Yang. Lost Lands and Sunken Fields.

Quả thông, giấy hanji, chuông kim loại và tiếng sóng từ một hòn đảo xa. Haegue Yang dựng lại những vùng đất không còn đứng được trên bản đồ.

Hannah Marie Marcus. Commodity Exchange.

18 · 2025

Hannah Marie Marcus. Commodity Exchange.

Sau khi mẹ và cha dượng qua đời năm 2024, Hannah Marie Marcus biến đồ vật trong nhà họ thành một buổi bán đồ di sản có mùi thanh yên.

Lucy Chinen, Sean Raspet. Chloroform Scopolamine.

19 · 2025

Lucy Chinen, Sean Raspet. Chloroform Scopolamine.

Một chiếc khăn tẩm thuốc, một loài hoa hình kèn, những điếu thuốc tưởng tượng. Chinen và Raspet làm một mùi hơi đáng ngờ, và cho người diễn mang nó đi vòng quanh phòng.

Máret Ánne Sara. Hyundai Commission: Goavve-Geabbil.

20 · 2025

Máret Ánne Sara. Hyundai Commission: Goavve-Geabbil.

Da tuần lộc bó bằng cáp điện, cao hết Turbine Hall. Rồi một lối đi quanh co theo hình chiếc mũi. Người xem đi vào hơi thở của một con vật.

Regina Mamou. Hang Our Gods.

21 · 2025

Regina Mamou. Hang Our Gods.

Nhựa đường, thạch cao, tro gỗ. Mỗi chất có hai mùi: một của Lưỡng Hà cổ đại, một của Iraq thời Saddam Hussein. Regina Mamou đặt chúng sau bức tường.

Ro Miller. Soft Time.

22 · 2025

Ro Miller. Soft Time.

Triển lãm cá nhân đầu tiên của Ro Miller đề xuất những cách đưa mùi vào nhà để đo thời gian theo lối khác: chậm, mềm, không cần chính xác.

Storycraft: Twelve Olfactory Narratives.

23 · 2025

Storycraft: Twelve Olfactory Narratives.

Mỗi thứ Bảy một nhà điều hương, sáu tiếng, một bộ nguyên liệu và một câu chuyện. Rồi cạnh mỗi mùi là một tấm ảnh hay một vật nhỏ để chỉ đường cho mũi.

Tavares Strachan. The Barber Shop.

24 · 2025

Tavares Strachan. The Barber Shop.

Ghế cắt tóc, gương cao, tượng bán thân bằng đồng, và một mùi vani sạch bay ra tận cửa. Tiệm cắt tóc của Tavares Strachan được nhớ bằng mũi trước.

Vương quốc Bách Tế. Gilt-bronze Incense Burner of Baekje.

25 · 2025

Vương quốc Bách Tế. Gilt-bronze Incense Burner of Baekje.

Một ngọn núi bằng đồng mạ vàng cao hơn sáu mươi phân, có nhạc công, thú lạ và mười hai lỗ nhỏ cho khói. Mười lăm thế kỷ sau, nó có một ngôi nhà riêng.

agustine zegers. A toxin threatens, but it also beckons.

26 · 2025

agustine zegers. A toxin threatens, but it also beckons.

Nhựa vừa đáng sợ vừa hấp dẫn. agustine zegers dùng mảnh polymer, vi nhựa và một mùi gợi khai thác dầu mỏ để hỏi cơ thể ta thấm những gì.

Ade Darmawan. Santalum Album Family.

27 · 2024

Ade Darmawan. Santalum Album Family.

Thùng dầu quốc doanh, bếp gas màu cam, và mùi gỗ đàn hương cháy. Ade Darmawan gọi tên một gia đình quyền lực bằng một mùi gỗ.

Arianna Petrich. The Water and the Wind: Incense Craft in Awaji, Japan.

28 · 2024

Arianna Petrich. The Water and the Wind: Incense Craft in Awaji, Japan.

Hỏi một bậc thầy làm hương ở Awaji nguyên liệu địa phương là gì, câu trả lời là: nước và gió. Arianna Petrich ghi lại nghề hương trên hòn đảo ấy.

Azza El Siddique. Echoes to Omega.

29 · 2024

Azza El Siddique. Echoes to Omega.

Nước nhỏ từng giọt, bay hơi, ngưng lại, rơi xuống. Giữa vòng lặp ấy, mùi gỗ ấm của Sandaliya, loại dầu thơm trong tang lễ Hồi giáo Sudan, lan khắp tầng hầm.

Bjarne Melgaard, Bjørn Kristian Hilberg. Abuse Is the Beauty of the Working Class.

30 · 2024

Bjarne Melgaard, Bjørn Kristian Hilberg. Abuse Is the Beauty of the Working Class.

Một buổi ra mắt nước hoa giả làm triển lãm, hay một triển lãm giả làm buổi ra mắt. Cốc chiết, máy chiết rót, lọ vỡ trên sàn, và bốn mùi mang tên người.

Carrie Paterson. Beneath the Earth, the Sky.

31 · 2024

Carrie Paterson. Beneath the Earth, the Sky.

Một cây nhỏ trong chậu, một hòn đá, một que hương. Carrie Paterson đảo ngược đất và trời để nói về ký ức và sự di cư.

Cauleen Smith. The Wanda Coleman Songbook.

32 · 2024

Cauleen Smith. The Wanda Coleman Songbook.

Bốn màn chiếu phủ kín tường, một chiếc đĩa than, sofa và thảm, và một mùi cây khô vùng đồi Los Angeles. Cauleen Smith đọc thơ Wanda Coleman bằng mọi giác quan.

Chakaia Booker. Empty Seat.

33 · 2024

Chakaia Booker. Empty Seat.

Mở cửa ra là mùi cao su, mùi của garage và nhà máy. Rồi mới thấy những khối lốp xe đen vặn xoắn, như những sinh thể đang cố thoát khỏi bức tường.

Elizabeth Renstrom. Basenote Bitch.

34 · 2024

Elizabeth Renstrom. Basenote Bitch.

Năm 2024 ở New York, Elizabeth Renstrom chụp những chai nước hoa từng được tuổi mới lớn yêu thích, rồi cho người xem xịt và ngửi lại chúng.

Gala Porras-Kim. The motion of an alluvial record.

35 · 2024

Gala Porras-Kim. The motion of an alluvial record.

Độ ẩm 84 phần trăm, không khí nặng bám lên da. Giữa phòng là một máng dài đất sét đầm lầy Yucatán, ướt và có mùi, như một kho lưu trữ còn đang chuyển động.

In Search of Chinese Art of Scent.

36 · 2024

In Search of Chinese Art of Scent.

Một trăm sáu mươi bộ hiện vật về hương, từ lư đồng thời Hán đến hộp sơn mài thời Thanh, và ba nghệ sĩ Hồng Kông làm mùi cho hôm nay.

Irina Adam. Pitch Pine Pollen: A Transforming Forest.

37 · 2024

Irina Adam. Pitch Pine Pollen: A Transforming Forest.

Irina Adam chưng mùi từ rừng thông Pine Barrens ở Long Island, nơi bọ cánh cứng đang làm cây đổi màu, rồi đặt mùi cạnh ảnh chụp chính khu rừng ấy.

Karola Braga. Sfumato.

38 · 2024

Karola Braga. Sfumato.

Một khối cát tạm, hơn mười một nghìn nón nhang, và gió. Sfumato để sa mạc tự mang mùi đi, rồi không để lại gì.

Koo Jeong A. ODORAMA CITIES.

39 · 2024

Koo Jeong A. ODORAMA CITIES.

Một đất nước được kể lại bằng mùi cơm, mùi sương mù, mùi nhà tắm công cộng. Không có bản đồ. Không có đường biên.

Minetta Rogers. Ruminant Dance, Instructions Towards.

40 · 2024

Minetta Rogers. Ruminant Dance, Instructions Towards.

Trăm năm sau buổi dạ vũ nơi M.F.K. Fisher lần đầu ăn hàu sống, Minetta Rogers dựng lại đêm ấy bằng thạch, giấy và mùi.

Olivia Wiederkehr, Andreas Wilhelm. Schmerzh.

41 · 2024

Olivia Wiederkehr, Andreas Wilhelm. Schmerzh.

Sáu quảng trường, sáu miệng cống toả mùi, ba tuần tháng 9. Zürich lên tiếng về những nỗi đau nó từng chứng kiến, bằng mũi của người qua đường.

Otobong Nkanga. Beacon: Prominence.

42 · 2024

Otobong Nkanga. Beacon: Prominence.

Một thân cây cháy đen bằng gốm, dưới chân là bình cây thuốc khô. Lại gần mới ngửi thấy oải hương. Lửa đi qua, mùi vẫn còn.

Sara Siestreem (Hanis Coos). milk and honey.

43 · 2024

Sara Siestreem (Hanis Coos). milk and honey.

Những chiếc giỏ đan bằng vỏ tuyết tùng, cỏ ngọt và rễ vân sam, đặt giữa phòng tranh New York. Đến gần, người xem ngửi thấy chúng trước khi hiểu chúng.

Sarana Mehra. Death Tastes Plastic.

44 · 2024

Sarana Mehra. Death Tastes Plastic.

Sau những mất mát riêng, Sarana Mehra đặt đồ cúng cạnh máy móc, niềm tin cạnh khoa học, và thêm vào đó mùi của một phòng bệnh.

Scents and Sonics of The Ocean.

45 · 2024

Scents and Sonics of The Ocean.

Phân tử mùi của một hòn đảo ven biển Georgia được đọc bằng máy quang phổ, rồi được nghe như âm thanh. Ký ức của biển đi qua ba thứ ngôn ngữ.

Alexis Karl. The Exquisite Inevitable.

46 · 2023

Alexis Karl. The Exquisite Inevitable.

Từ bối cảnh một phim kinh dị dân gian, Alexis Karl dựng trong phòng trưng bày một khu rừng đang nuốt chửng đồ đạc, bằng rêu, đất và mùi của sự mục rữa.

Alisa Banks. History of a People.

47 · 2023

Alisa Banks. History of a People.

Một cuốn sách gấp mở ra thành sáu lọ thuỷ tinh. Mỗi lọ giữ một mùi pha riêng cho một chặng lịch sử người Mỹ gốc Phi, từ Roots đến Visioning.

Anicka Yi. Walking on Two Paths at Once.

48 · 2023

Anicka Yi. Walking on Two Paths at Once.

Một tác phẩm chỉ có mùi. Nó vừa quen vừa lạ, vừa như đáy biển vừa như một nơi ngoài Trái Đất.

Charles Rosenberg. Envelopment.

49 · 2023

Charles Rosenberg. Envelopment.

Bốn tấm quilt không treo lên tường mà dựng thành không gian để bước vào. Ba tấm có mùi theo màu. Tấm thứ tư cố ý không có mùi nào.

Cristian Marianciuc. Olfactory Peregrinations.

50 · 2023

Cristian Marianciuc. Olfactory Peregrinations.

Nghệ sĩ giấy người Romania Cristian Marianciuc gấp những con hạc như trang sức, mỗi con ghi lại cảm nhận của anh về một mùi nước hoa vào một thời điểm.

Jas Brooks, Pedro Lopes. Smell & Paste.

51 · 2023

Jas Brooks, Pedro Lopes. Smell & Paste.

Một cuộn băng giấy, vài nhãn cào ngửi, một hộp cassette bìa cứng. Đủ để phác thảo một chuỗi mùi trước khi làm thật.

Lion Wintersea / Hannah Marie Marcus. Citromancy.

52 · 2023

Lion Wintersea / Hannah Marie Marcus. Citromancy.

Năm 2023, ở New York và Los Angeles, Hannah Marie Marcus tiêm mùi hương vào trái cây họ cam quýt, rồi đọc quẻ bằng mũi, bằng âm thanh và thơ.

Maki Ueda. That Microplastics Smell Delicious!

53 · 2023

Maki Ueda. That Microplastics Smell Delicious!

Những quả bóng xanh là biển, những quả bóng trắng là nhựa. Mỗi ngày khoảng hai mươi giọt một mùi khiến nhựa trông như thức ăn đối với sinh vật biển.

Precious Okoyomon. the sun eats her children.

54 · 2023

Precious Okoyomon. the sun eats her children.

Nhài, kim ngân, huệ tây và cả cây độc mọc trong một nhà nguyện thế kỷ thứ chín. Giữa vườn, một con gấu bông máy nằm nghiêng.

Se Young Au. A Clearing.

55 · 2023

Se Young Au. A Clearing.

Trong phòng thăm nuôi, người ta chụp ảnh trước một phông cảnh rừng núi. Se Young Au lấy phông cảnh ấy và cho nó một mùi.

Tamara Henderson. Continuity the bronze wizard approves.

56 · 2023

Tamara Henderson. Continuity the bronze wizard approves.

Tượng đồng cao 28 cm, đi cùng hộp gỗ bạch đàn, vải nhuộm bạch đàn, nhang và diêm. Một tác phẩm nhỏ, nhưng mùi của nó lấp cả phòng.

lindsey french, Alex Young. Scent Poems for Pipeline Plants.

57 · 2023

lindsey french, Alex Young. Scent Poems for Pipeline Plants.

Dọc hơn 1.600 km đường ống dầu từ Edmonton đến Superior, lindsey french và Alex Young đặt những bình gốm chứa dầu thơm, viết bằng ngôn ngữ của cây.

Boris Raux. La Fabrique des Méduses.

58 · 2022

Boris Raux. La Fabrique des Méduses.

Một nghệ sĩ gội đầu cho khách. Nước gội được giữ lại, đông thành gel, rồi bay hơi dần trong phòng. Mùi người ở lại lâu hơn người.

Donna Huanca. CUEVA DE COPAL.

59 · 2022

Donna Huanca. CUEVA DE COPAL.

Một căn phòng tam giác trải cát trắng, bốn bức tranh sơn dầu trộn cát, tiếng nước, tiếng gió và một mùi gỗ do nghệ sĩ tự làm.

Flanker. Một mùi và những bản sao của nó.

60 · 2022

Flanker. Một mùi và những bản sao của nó.

Một chai quen thuộc, rồi bản đậm hơn, bản nhẹ hơn, bản mùa hè. Flanker kéo dài một cái tên. Penta hỏi: bao nhiêu biến thể thì một vật không còn là nó?

Goldie Poblador. Fertility Flowers.

61 · 2022

Goldie Poblador. Fertility Flowers.

Những hình người nữ mọc lên từ cánh hoa thuỷ tinh, mùi hoa đêm lan khắp phòng. Goldie Poblador viết lại các truyền thuyết hoa của Philippines.

Jiabao Li. Menstrual Garden.

62 · 2022

Jiabao Li. Menstrual Garden.

Mùi máu kinh tươi, mùi máu kinh ứ lại, mùi của cơn đau. Jiabao Li đặt ba mùi ấy vào phòng trưng bày, cạnh mười protein được in 3D.

Joe Merrell. The Fragility of Complex Things.

63 · 2022

Joe Merrell. The Fragility of Complex Things.

Hai năm đại dịch, Joe Merrell quay vào bên trong. Kết quả là video, tranh in, một máy bán kẹo chứa hoa dành dành và hai chai nước hoa.

Jonathan Baldock. Grave Goods.

64 · 2022

Jonathan Baldock. Grave Goods.

Chín chiếc bình gốm gắn ngón tay, bàn chân, trong lòng chứa thảo mộc tang lễ. Vài tuần sau khai mạc, mùi đã gần hết. Đó cũng là một phần của tác phẩm.

Karola Braga. Lágrimas, Terra e Crisântemo.

65 · 2022

Karola Braga. Lágrimas, Terra e Crisântemo.

Ở Bienal do Mercosul lần thứ 13, Karola Braga treo một tấm ga trắng tẩm mùi nước mắt, đất và hoa cúc. Gió làm nó đung đưa, và mùi tang tóc lan ra.

La esencia de un cuadro. Una exposición olfativa.

66 · 2022

La esencia de un cuadro. Una exposición olfativa.

Một bức tranh đầy hoa, găng tay, bình hương. Prado nhờ một nhà điều hương làm lại mười mùi trong đó, để người xem ngửi ngay cạnh khung tranh.

Luiza Gottschalk. Glade: To Touch Painting.

67 · 2022

Luiza Gottschalk. Glade: To Touch Painting.

Ở bảo tàng, người ta dặn đừng chạm vào tranh. Luiza Gottschalk dặn ngược lại: chạm vào, và khu rừng sẽ có mùi.

Maki Ueda. Aerosculpture: Sea of Fragrant Cloud.

68 · 2022

Maki Ueda. Aerosculpture: Sea of Fragrant Cloud.

Tháng 11 năm 2022, ở Arashiyama, Maki Ueda dùng đá khô để làm mùi nhang chùa hiện hình thành mây, kèm tiếng cồng Tây Tạng. Mùi trở thành thứ nhìn thấy được.

Maxwell Williams. Anosmiac!

69 · 2022

Maxwell Williams. Anosmiac!

Một thành phố bằng sáp nằm dưới chuông kính, chờ được đốt. Một kẻ phản diện ngửi thấy nó từ xa. Maxwell Williams viết tiếp Mike Kelley bằng mùi.

Maxwell Williams. CNC Musk Factory.

70 · 2022

Maxwell Williams. CNC Musk Factory.

Ta có thể nhắm mắt, bịt tai. Nhưng không thể thôi thở. CNC Musk Factory biến điều đó thành câu hỏi về quyền lực và sự đồng ý.

Máret Ánne Sara. Gutted / Gávogálši.

71 · 2022

Máret Ánne Sara. Gutted / Gávogálši.

Những chiếc dạ dày tuần lộc khô treo lơ lửng. Một mùi đi qua cả lớp khẩu trang. Cơ thể biết trước khi đầu kịp hiểu.

OAK@IAO.

72 · 2022

OAK@IAO.

Một năm triển lãm mùi ở New York được gói lại, gửi sang Los Angeles trong một tháng. Chuối non, chuối già, thuỷ tinh thổi và trạm rửa tay.

Peter de Cupere. Olfabet.

73 · 2022

Peter de Cupere. Olfabet.

Mỗi chữ cái là một mùi. Ghép vài mùi lại là một từ. Olfabet hỏi liệu con người có thể học đọc bằng mũi như đã học đọc bằng mắt.

Rhea Dillon. NEGR-OID.

74 · 2022

Rhea Dillon. NEGR-OID.

Một câu bình luận trên truyền hình gán cho một người một mùi. Rhea Dillon trả lời bằng một mùi cố ý không giống bất kỳ thứ gì.

Sarana Mehra. Dyspnea.

75 · 2022

Sarana Mehra. Dyspnea.

Năm 2022, khi hít vào vẫn còn là một nỗi lo, Sarana Mehra dựng một căn phòng có mùi để hỏi: hơi thở mang theo những gì?

Sensoria: The Art and Science of our Senses.

76 · 2022

Sensoria: The Art and Science of our Senses.

Sau những năm cách ly, một triển lãm ở Gdańsk và Toronto hỏi lại: các giác quan của ta còn nói chuyện với nhau không? Có một cái cây trả lời bằng mùi.

Turba Tol Hol-Hol Tol.

77 · 2022

Turba Tol Hol-Hol Tol.

Tám người một lượt, bước vào bóng tối, chân đạp lên rêu, nước nhỏ giọt quanh mình. Nhà Chile tại Venice mang một đầm than bùn ở tận cùng Nam Mỹ tới.

Anicka Yi. In Love With The World.

78 · 2021

Anicka Yi. In Love With The World.

Những cỗ máy bay lơ lửng trong Turbine Hall. Mỗi tuần, không khí quanh chúng đổi mùi: biển cổ, cây cổ, than đá, hương liệu thời dịch hạch.

Bernardo Fleming. Dreaming in Smell.

79 · 2021

Bernardo Fleming. Dreaming in Smell.

Ít người ngửi thấy mùi trong giấc mơ. Bernardo Fleming thì có. Bốn giấc mơ của anh được mang ra khỏi giấc ngủ, lên ga giường và gối.

Candice Lin. Swamp Fat.

80 · 2021

Candice Lin. Swamp Fat.

Một khối mỡ lợn đã ngấm mùi tôm và thịt rữa. Người xem được mời xoa lên da, rồi mang mùi ấy ra khỏi phòng trưng bày.

Charlotte Eta Mumm. Pulse.

81 · 2021

Charlotte Eta Mumm. Pulse.

Một máy hút ẩm, một vòng ống, mười tám mùi của thành phố. Pulse là một điêu khắc tự đổi mùi theo nhịp nước nhỏ giọt.

Fleeting. Scents in Colour.

82 · 2021

Fleeting. Scents in Colour.

Một quầy tạp hoá, một bãi phơi vải, một con kênh Amsterdam. Mauritshuis cho người xem ngửi những gì tranh thế kỷ 17 chỉ có thể vẽ ra.

Katie Paterson. To Burn, Forest, Fire.

83 · 2021

Katie Paterson. To Burn, Forest, Fire.

Hai loại nhang: một mang mùi khu rừng đầu tiên của hành tinh, một mang mùi khu rừng có thể là cuối cùng. Mỗi que cháy mười lăm phút.

Maki Ueda. Viral Parfum.

84 · 2021

Maki Ueda. Viral Parfum.

Người xem xịt mùi lên tường, lên sàn, lên đồ vật. Người sau dùng mũi và đèn cực tím để tìm nơi virus đã bám vào. Sáu mùi gộp lại thành hoa loa kèn trắng.

Olfactory Art Keller.

85 · 2021

Olfactory Art Keller.

Một căn phòng ở Chinatown, New York, nơi tác phẩm không nhìn được mà chỉ ngửi được. Người mở nó là một nhà khoa học đã nghiên cứu mũi hai mươi năm.

Oswaldo Maciá. New Cartographies of Smell Migration | Santa Fe.

86 · 2021

Oswaldo Maciá. New Cartographies of Smell Migration | Santa Fe.

Mùi không cần hộ chiếu. Nó đi theo gió, theo côn trùng, theo những con tàu buôn. Maciá vẽ bản đồ cho những chuyến đi ấy.

Pamela Rosenkranz. Infection (Calvin Klein Obsession for Men).

87 · 2021

Pamela Rosenkranz. Infection (Calvin Klein Obsession for Men).

Than, phân người, xương thú đắp thành một gò đất hình nón, tẩm một loại nước hoa nam nổi tiếng. Đỉnh gò phát sáng màu xanh lá.

Projects: Gabrielle L'Hirondelle Hill.

88 · 2021

Projects: Gabrielle L'Hirondelle Hill.

Cờ khâu từ thuốc lá Perique và Virginia, thỏ nhồi thuốc lá vụn, một bức tường chà lá tươi. Ở MoMA, thuốc lá trở lại làm một cái cây.

Sean Raspet tại Various Small Fires.

89 · 2021

Sean Raspet tại Various Small Fires.

Một tấm rêu được cấy gen hoắc hương, lặng lẽ phả mùi đất rừng vào phòng trưng bày. Sean Raspet hỏi: trưng bày thiên nhiên nghĩa là gì?

Sissel Tolaas. RE_________.

90 · 2021

Sissel Tolaas. RE_________.

Tên triển lãm là hai chữ cái và một khoảng trống. Tolaas để mũi người xem viết nốt phần còn lại.

Carla Bengtson. Every Word Was Once an Animal.

91 · 2020

Carla Bengtson. Every Word Was Once an Animal.

Thằn lằn nói bằng cái gật đầu và bằng mùi. Carla Bengtson dựng một triển lãm để con người thử nghe.

Eric Fong. Thanatos: Scent of Death Perfume.

92 · 2020

Eric Fong. Thanatos: Scent of Death Perfume.

Một chai nước hoa dẫn người ngửi từ đồng cỏ vào giữa rừng, nơi có một thi thể. Eric Fong dùng khoa học pháp y để hỏi: cái chết có mùi gì?

Sissel Tolaas. Invisible Pompeii.

93 · 2020

Sissel Tolaas. Invisible Pompeii.

Ở Pompeii, Sissel Tolaas không mang đất về phòng thí nghiệm. Bà mang mũi và thiết bị tới hố khai quật, ghi lại mùi của từng lớp đất vừa được mở ra.

Ade Darmawan. Tuban.

94 · 2019

Ade Darmawan. Tuban.

Bếp điện trên bàn ăn, bình chưng cất sôi lặng lẽ, tinh dầu gia vị nhỏ xuống những cuốn tiểu sử Suharto. Căn phòng thơm ngọt, và cay.

Alejandro Ros, Pablo Schanton. Cerca.

95 · 2019

Alejandro Ros, Pablo Schanton. Cerca.

Bốn người khoả thân ngủ trong bóng tối. Mùi nằm trên da họ. Muốn ngửi, khán giả phải đến gần hơn mức họ quen đến gần một người lạ.

Alexandra Daisy Ginsberg. Resurrecting the Sublime.

96 · 2019

Alexandra Daisy Ginsberg. Resurrecting the Sublime.

Ba loài hoa biến mất vì chăn nuôi, đập nước và vườn nho thuộc địa. Hơn một thế kỷ sau, người ta đứng giữa đá và ngửi lại mùi của chúng, không trọn vẹn.

Anicka Yi. Biography.

97 · 2019

Anicka Yi. Biography.

Anicka Yi mượn hình thức chai nước hoa để viết tiểu sử cho ba người phụ nữ mà lịch sử hay bỏ quên. Mỗi mùi là một đời người được kể lại.

Brian Goeltzenleuchter. Scents of Exile.

98 · 2019

Brian Goeltzenleuchter. Scents of Exile.

Một bình nước rửa tay, một tấm bảng kể chuyện. Người xem rửa tay và mang theo mùi quê nhà của một người họ chưa từng gặp.

Jónsi. Í blóma, Hvítblinda, Svartalda.

99 · 2019

Jónsi. Í blóma, Hvítblinda, Svartalda.

Ở Tanya Bonakdar Gallery, Los Angeles, Jónsi dựng ba tác phẩm âm thanh, mỗi tác phẩm có một mùi riêng: cadaverine, ozone trước mưa, rong biển.

Lauren Jetty. Notes.

100 · 2019

Lauren Jetty. Notes.

Ba đĩa hát bằng băng. Khi chúng quay và tan, giọng hát lặng đi, tiếng băng nứt thành nhịp tim, và mùi mưa bão bay lên từ nước.

Maki Ueda. Olfactory Labyrinth ver. 5: Invisible Footprints.

101 · 2019

Maki Ueda. Olfactory Labyrinth ver. 5: Invisible Footprints.

Bảy màu dép, bảy mùi, một sàn nhà trống. Mỗi bước chân để lại một dấu vết chỉ mũi mới đọc được.

Nez à nez. Parfumeurs contemporains.

102 · 2019

Nez à nez. Parfumeurs contemporains.

Quạt tẩm mùi mọc lên từ mặt bàn, bình thuỷ tinh buộc vào bóng bay, một ô kính màu. Ở Lausanne, người ta thiết kế đồ vật cho một thứ không có hình.

Ōjukukō (Ranjatai).

103 · 2019

Ōjukukō (Ranjatai).

Một khúc gỗ trầm dài hơn một mét rưỡi, nằm trong kho báu của chùa Tōdai-ji. Mỗi lần có quyền lực mới, trên thân nó lại thêm một vết cắt.

Bharti Lalwani. Bagh-e Hind: Scent Translations of Mughal and Rajput Garden Paintings.

104 · 2018

Bharti Lalwani. Bagh-e Hind: Scent Translations of Mughal and Rajput Garden Paintings.

Những khu vườn Mughal và Rajput nằm trong bảo tàng phương Tây, xa người Nam Á. Bharti Lalwani đưa chúng về bằng mũi: hoa hồng, thuỷ tiên, khói, diên vĩ, kewra.

Ernesto Neto. GaiaMotherTree.

105 · 2018

Ernesto Neto. GaiaMotherTree.

Một cây bằng dây cotton cao tới trần sảnh ga Zurich. Dưới gốc là vòng ghế. Trên cành là những túi gia vị. Người đi tàu dừng lại, ngồi xuống, và ngửi.

Helga Griffiths. Essence of Coal.

106 · 2018

Helga Griffiths. Essence of Coal.

Than đá được chưng cất thành tinh chất, thành nước hoa, rồi thành kim cương. Helga Griffiths theo dấu carbon qua nhiều hình dạng, trong năm một nghề cũ khép lại.

Helga Griffiths. L'Air du Charbon.

107 · 2018

Helga Griffiths. L'Air du Charbon.

Chín mươi chín năm sau khi Duchamp đóng không khí Paris vào một ống thủy tinh, Helga Griffiths làm điều tương tự với không khí của mỏ than cuối cùng ở Đức.

Jay Muhlin. Kid.

108 · 2018

Jay Muhlin. Kid.

Một bé gái, một con mèo, những khu vườn và tuyết. Ảnh treo trong một căn phòng thơm mùi hoa và rừng. Mùi ấy không trung lập, và tấm ảnh cũng vậy.

Josely Carvalho. Diary of Smells: Glass Ceiling (Teto de Vidro).

109 · 2018

Josely Carvalho. Diary of Smells: Glass Ceiling (Teto de Vidro).

Ở MAC USP năm 2018, Josely Carvalho bày những bình thuỷ tinh làm từ mảnh vỡ. Từ miệng bình thoát ra mùi hơi cay, mùi rừng cháy, mùi một loài hoa nở đêm.

Maki Ueda. Olfactory Labyrinth Ver. 4.

110 · 2018

Maki Ueda. Olfactory Labyrinth Ver. 4.

Ở Japan House São Paulo, Maki Ueda treo 81 lọ mùi thành lưới. Người đi dùng mũi tìm những cây anh đào không ai nhìn thấy.

Maki Ueda. Tangible Scents: Composition of Rose in the Air.

111 · 2018

Maki Ueda. Tangible Scents: Composition of Rose in the Air.

Năm máy thổi bong bóng, năm phân tử của hoa hồng. Bong bóng vỡ, mùi hồng rơi ra từng mảnh.

Marguerite Humeau. Birth Canal (Venus body odour), The scent of the birth of humankind.

112 · 2018

Marguerite Humeau. Birth Canal (Venus body odour), The scent of the birth of humankind.

Mười hai tượng Venus, một bản âm thanh và một mùi tổng hợp của sự sinh nở. Humeau cho người xem ngửi một khởi đầu mà không ai còn nhớ.

Otobong Nkanga. Anamnesis.

113 · 2018

Otobong Nkanga. Anamnesis.

Một khe nứt chạy ngang bức tường trắng, bên trong là cà phê, trà, thuốc lá, ca cao, than bùn và gia vị. Bức tường ghi nhớ những thứ lịch sử muốn quên.

Pierre Huyghe. UUmwelt.

114 · 2018

Pierre Huyghe. UUmwelt.

Hình ảnh tái dựng từ sóng não, một đàn ruồi sinh sôi và một chuỗi mùi từ cùng dữ liệu. Ở Serpentine, căn phòng có thế giới riêng của nó.

Sean Raspet. New Olfactory Molecules.

115 · 2018

Sean Raspet. New Olfactory Molecules.

Một phân tử mùi hoa chưa từng tồn tại trước năm 2018. Không có bông hoa nào đứng sau nó. Tác phẩm là chính cái phân tử.

Tania Bruguera. 10,148,451.

116 · 2018

Tania Bruguera. 10,148,451.

Trong Turbine Hall, người xem cùng nằm xuống sàn để một khuôn mặt hiện ra. Bên cạnh, một căn phòng nhỏ làm họ chảy nước mắt mà không cần một câu chuyện.

Anicka Yi. Life Is Cheap.

117 · 2017

Anicka Yi. Life Is Cheap.

Lối vào là một chuồng giữ. Các bình kim loại phun ra một mùi làm từ mồ hôi người và dấu tiết của kiến. Người xem đi qua nó trước khi thấy bất cứ thứ gì.

Cercle d'Art des Travailleurs de Plantation Congolaise.

118 · 2017

Cercle d'Art des Travailleurs de Plantation Congolaise.

Công nhân đồn điền ở Lusanga nặn tượng bằng đất sét, rồi tượng được đúc bằng sô-cô-la. Mùi ca cao trong phòng trưng bày là mùi của một chuỗi giá trị.

Elaine Cameron-Weir. Who you are what looks out from behind you are is the thing that names what transforms…now, look what calms the captive by letting him sniff the perfume, like smell what smells like your masters crotch.

119 · 2017

Elaine Cameron-Weir. Who you are what looks out from behind you are is the thing that names what transforms…now, look what calms the captive by letting him sniff the perfume, like smell what smells like your masters crotch.

Một khối nhựa thơm được giữ ấm trên bếp phòng thí nghiệm, một mặt nạ da treo gần đó. Không có ai trong phòng, nhưng mùi thì như có người.

Friedrich Kunath. Frutti di Mare.

120 · 2017

Friedrich Kunath. Frutti di Mare.

Một triển lãm như cuốn tiểu thuyết lãng mạn về nghệ sĩ và tác phẩm của mình. Có tranh, có phim, có tất vương vãi, và một mùi hoa rất nhẹ mà ai cũng đi qua.

Martin Roth. I cultivated a piece of land in Midtown Manhattan nurtured by tweets.

121 · 2017

Martin Roth. I cultivated a piece of land in Midtown Manhattan nurtured by tweets.

Hai trăm cây oải hương dưới một tầng hầm ở Midtown. Đèn trồng cây sáng lên mỗi khi các tài khoản quanh Nhà Trắng được retweet nhiều.

Mike Bouchet. Tender.

122 · 2017

Mike Bouchet. Tender.

Một gallery trống. Không tranh, không tượng. Chỉ có mùi của những tờ đô la đã qua tay, được một nhà hương tái tạo từ hơn 100 thành phần.

Milica Zec, Winslow Porter. Tree VR.

123 · 2017

Milica Zec, Winslow Porter. Tree VR.

Hai cánh tay thành cành, thân người thành thân cây. Mùi đất đến trước khi mắt kịp hiểu mình đang ở đâu.

Pamela Rosenkranz. She Has No Mouth.

124 · 2017

Pamela Rosenkranz. She Has No Mouth.

Cát hồng trải trên sàn như cát vệ sinh cho mèo, toả một mùi xạ nồng. Một nhân vật không có miệng, và những ham muốn không cần lời.

Perfume: A Sensory Journey Through Contemporary Scent.

125 · 2017

Perfume: A Sensory Journey Through Contemporary Scent.

Mười nhà điều hương, mười mùi, mười căn phòng. Một sa mạc Maroc, một phòng xưng tội, một công viên nước. Mỗi mùi được cho một nơi để ở.

Peter de Cupere. Salt Flowers.

126 · 2017

Peter de Cupere. Salt Flowers.

Năm bông hoa trắng lấp lánh như muối, mỗi bông một mùi. Nhìn kỹ thì không có gì là muối, và mùi hoa cũng không đến từ hoa.

Peter de Cupere. Smoke Flowers.

127 · 2017

Peter de Cupere. Smoke Flowers.

Người xem cúi xuống ngửi một bông hoa. Bông hoa đáp lại bằng một làn khói mang mùi thành phố.

Pope.L. Claim (Whitney Version).

128 · 2017

Pope.L. Claim (Whitney Version).

Hàng nghìn lát bologna, mỗi lát kèm một tấm ảnh người lạ, ghim thành lưới trên tường. Suốt kỳ triển lãm, thịt khô dần, cong lại, và mùi thay đổi.

Đổi công thức. Một mùi còn là nó?

129 · 2017

Đổi công thức. Một mùi còn là nó?

Cùng một cái tên, cùng một chai, nhưng bên trong đã khác. Đổi công thức là chuyện thường của nước hoa. Penta hỏi: thay từng tấm ván, thuyền còn là thuyền cũ?

AIX Scent Fair.

130 · 2016

AIX Scent Fair.

Một hội chợ mùi miễn phí trong bảo tàng, nơi người xem được ngửi, hỏi, và tự tay pha. AIX Scent Fair đặt nhà làm mùi độc lập cạnh nghệ sĩ.

Alex Da Corte. A Season in He'll.

131 · 2016

Alex Da Corte. A Season in He'll.

Cửa kính màu hình bông hồng, rèm lưới thép, chiếc mũ phù thuỷ khổng lồ, và một căn phòng mà ngay cả không khí cũng được dàn dựng.

Dineo Seshee Bopape. sa ____ ke lerole, (sa lerole ke ___).

132 · 2016

Dineo Seshee Bopape. sa ____ ke lerole, (sa lerole ke ___).

Đất nén thành khối, xô thơm cháy dở, cánh hoa rải trên mặt đất. Một căn phòng có mùi của đất đai và của những nghi lễ đã bị bỏ lại.

Elaine Cameron-Weir. Sentry Tactical Like Prey with Evolutionary Eyes of a Predator on the Wing 2.

133 · 2016

Elaine Cameron-Weir. Sentry Tactical Like Prey with Evolutionary Eyes of a Predator on the Wing 2.

Một khối điêu khắc bằng thép và đá, có gương xe máy nhìn ra sau và một ngọn lửa nhỏ hâm nhựa nhũ hương. Tác phẩm đứng yên, nhưng mùi thì không.

Elodie Pong. Paradise Paradoxe.

134 · 2016

Elodie Pong. Paradise Paradoxe.

Hai tên nước hoa tình cờ nằm cạnh nhau trên màn hình thành tên một triển lãm. Elodie Pong nhìn vào khoảng hở giữa mùi và chữ.

Kai Althoff. and then leave me to the common swifts (und dann überlasst mich den Mauerseglern).

135 · 2016

Kai Althoff. and then leave me to the common swifts (und dann überlasst mich den Mauerseglern).

Kai Althoff biến một dãy phòng MoMA thành một không gian liền mạch dưới lều vải trắng, có nhạc của ông và một mùi ngọt lan khắp nơi.

Koo Jeong A. Odorama (Charing Cross).

136 · 2016

Koo Jeong A. Odorama (Charing Cross).

Không tượng, không tranh, không màn hình. Koo Jeong A dùng ánh đèn và mùi gỗ trầm để biến một sân ga bỏ hoang thành một nơi khác.

Larry Bamburg. TalctoTile.

137 · 2016

Larry Bamburg. TalctoTile.

Đá talc thô, gạch men nhà tắm và những tấm xà phòng mỡ bò tự nấu, chồng lên nhau thành tháp. Phòng trưng bày có mùi của một nhà tắm.

Leanne Wijnsma, Froukje Tan. Smell of Data.

138 · 2016

Leanne Wijnsma, Froukje Tan. Smell of Data.

Khí gas vốn không mùi, nên người ta thêm mùi vào để cảnh báo. Smell of Data làm điều tương tự với dữ liệu của bạn.

Massimo Bartolini. Toscano.

139 · 2016

Massimo Bartolini. Toscano.

Một cỗ máy nhỏ hút một điếu xì gà thật. Không có người hút. Chỉ có mùi thuốc lá lan khắp phòng trưng bày.

Oswaldo Maciá. Under the Horizon.

140 · 2016

Oswaldo Maciá. Under the Horizon.

Không có gì để nhìn ngoài một bồn tắm và dòng nước đen không ngừng chảy. Phần còn lại của tác phẩm nằm trong mũi và tai người xem.

Peter de Cupere. Is This Mankind?

141 · 2016

Peter de Cupere. Is This Mankind?

Ba không gian mùi, một khu rừng tóc, và lời kể của những người từng mất tóc không do mình chọn. Mùi giữ lại điều ảnh không giữ được.

Amalia Ulman. Stock Images of War.

142 · 2015

Amalia Ulman. Stock Images of War.

Sau rèm đen là xe tăng, xe lăn, xe đạp làm bằng dây kim loại mảnh. Máy xịt phòng phả mùi táo quế theo giờ. Chiến tranh có mùi như một phòng khách.

Anicka Yi. 6,070,430K of Digital Spit.

143 · 2015

Anicka Yi. 6,070,430K of Digital Spit.

Một phòng trưng bày ở MIT có mùi bạc hà. Anicka Yi dùng vật liệu dễ hỏng để hỏi: vị giác nhớ bằng cách nào?

Anicka Yi. 7,070,430K of Digital Spit.

144 · 2015

Anicka Yi. 7,070,430K of Digital Spit.

Một triển lãm khép lại năm năm làm việc. Một mùi được đặt tên là sự quên lãng. Một cuốn sách in trên giấy hương, đọc xong thì đốt.

Anicka Yi. You Can Call Me F.

145 · 2015

Anicka Yi. You Can Call Me F.

Một trăm người phụ nữ gửi mẫu cơ thể. Vi khuẩn của họ lớn lên trên một tấm biển ở lối vào, và mùi của họ lan khắp phòng.

Belle Haleine, The Scent of Art.

146 · 2015

Belle Haleine, The Scent of Art.

Hơi thở đóng trong bong bóng, bột talc dưới chân, hơi khuynh diệp trong phòng video. Một bảo tàng ở Basel hỏi: khi cái mũi giữ vai chính thì sao?

Flying Object. Tate Sensorium.

147 · 2015

Flying Object. Tate Sensorium.

Mùi cỏ và đất cho Francis Bacon, mùi keo xịt tóc cho Richard Hamilton, mùi sơn cho một bến tàu của David Bomberg. Bốn bức tranh, mỗi bức một lời đọc bằng mũi.

Haegue Yang. Sol LeWitt Upside Down: K123456, Expanded 1078 Times, Doubled and Mirrored.

148 · 2015

Haegue Yang. Sol LeWitt Upside Down: K123456, Expanded 1078 Times, Doubled and Mirrored.

Một cấu trúc lập phương của Sol LeWitt, phóng to, nhân đôi, soi gương và treo ngược bằng rèm lá sách. Đi xuyên qua, người xem gặp những làn mùi.

Heman Chong. Smoke Gets In (Your Eyes).

149 · 2015

Heman Chong. Smoke Gets In (Your Eyes).

Hai gạt tàn, một cái bàn, một góc hút thuốc trong bảo tàng. Mùi khói không do máy tạo ra, cứ thế tích lại qua từng ngày triển lãm.

Hicham Berrada. Mesk-ellil.

150 · 2015

Hicham Berrada. Mesk-ellil.

Bảy tủ kính, một loài hoa chỉ thơm về đêm, và ánh đèn đảo ngược ngày đêm. Người xem bước vào giữa trưa và ngửi thấy nửa đêm.

Kate McLean. Odours of the Morning and the Evening: Singapore.

151 · 2015

Kate McLean. Odours of the Morning and the Evening: Singapore.

Kate McLean vẽ tay từng mùi người đi bộ nhận ra, sáng một lớp, tối một lớp, rồi chồng lên nhau. Chỗ hai lớp lệch nhau là chỗ thời gian hiện ra.

Maki Ueda. Olfactory Labyrinth Ver. 2.

152 · 2015

Maki Ueda. Olfactory Labyrinth Ver. 2.

Bốn mùi gỗ và nhựa thơm, một mê cung, một luật duy nhất: chọn một mùi ở lối vào và theo nó tới lối ra.

Maryanto. Brimming in Wonocolo.

153 · 2015

Maryanto. Brimming in Wonocolo.

Trước một cánh đồng giàn khoan vẽ trên tường, những thùng phuy phun dầu thô theo nhịp. Mùi dầu đi trước, lịch sử theo sau.

Pamela Rosenkranz. Our Product.

154 · 2015

Pamela Rosenkranz. Our Product.

Nhà trưng bày Thuỵ Sĩ được lấp bằng một chất lỏng màu da. Nó chảy, có mùi, phát sáng, phát tiếng. Nó giống một thứ đang sống.

Peter de Cupere. The Smell of a Stranger.

155 · 2015

Peter de Cupere. The Smell of a Stranger.

Chín cây trồng của Cuba, mỗi cây mang một mùi không phải của nó: mồ hôi, máu, tiền, thuốc súng. Một tác phẩm hỏi điều gì xảy ra khi mùi có thể được lắp ráp.

Alessandro Piangiamore. Primavera Piangiamore.

156 · 2014

Alessandro Piangiamore. Primavera Piangiamore.

Những người lạ tặng mùi của mình. Nghệ sĩ nhốt chúng vào thuỷ tinh, kín đến mức không ai ngửi thấy nữa. Cạnh đó là sáp nến cúng từ các nhà thờ Rome.

Benitha Perciyal. The Fires of Faith.

157 · 2014

Benitha Perciyal. The Fires of Faith.

Những pho tượng đúc bằng nhang, quế, đinh hương và nhựa thơm. Chúng nứt theo thời gian, mùi phai dần, và người nghệ sĩ lại vá.

Clara Ursitti. Invader.

158 · 2014

Clara Ursitti. Invader.

Không có vật nào để nhìn, không có góc riêng. Theo giờ đã định, mùi của Ursitti tràn vào căn phòng chung và chiếm lấy không khí quanh mọi tác phẩm.

Ernesto Neto: the body that carries me.

159 · 2014

Ernesto Neto: the body that carries me.

Neto dựng chín không gian mềm trong Guggenheim Bilbao. Người xem bước vào, nằm xuống, và ngửi thấy nghệ, thì là, đinh hương.

Martynka Wawrzyniak. Eau de M.

160 · 2014

Martynka Wawrzyniak. Eau de M.

Martynka Wawrzyniak cài một quảng cáo nước hoa giả vào tạp chí thời trang. Dải thử mang mùi mồ hôi của chị. Rồi có người đến cửa hàng hỏi mua.

Pamela Rosenkranz. Attraction (Red and Blue).

161 · 2014

Pamela Rosenkranz. Attraction (Red and Blue).

Ánh sáng đỏ, ánh sáng xanh, và một mùi pheromone mà người xem gần như không nhận ra. Rosenkranz hỏi: ham muốn của ta có thật là của ta?

Peter de Cupere. Invisible (Scent) Paintings.

162 · 2014

Peter de Cupere. Invisible (Scent) Paintings.

Một bức tranh treo trên tường, một tựa đề khó hiểu. Chỉ khi cào lên bề mặt và đưa ngón tay lên mũi, người xem mới biết bức tranh nói gì.

Pierre Huyghe. Hole for Rat.

163 · 2014

Pierre Huyghe. Hole for Rat.

Huyghe đào một lỗ xuyên sàn để chuột ra vào tự do, rồi bôi pheromone chuột lên các bề mặt. Mùi ở đây là một lời mời, nhưng không mời người.

Polymorf. Famous Deaths.

164 · 2014

Polymorf. Famous Deaths.

Người xem nằm trong ngăn tủ lạnh nhà xác, trong bóng tối. Khoảng bốn phút âm thanh và mùi kể lại những giây cuối của một người nổi tiếng.

Sean Raspet. Residuals.

165 · 2014

Sean Raspet. Residuals.

Một bình thép hứng không khí gallery trong bảy ngày. Mùi nền ấy được cô đặc hàng nghìn lần rồi phủ lên tường, chờ người xem cào vào và ngửi.

Sensorium 360°.

166 · 2014

Sensorium 360°.

Tia laser xanh dựng những chiếc lồng không có song. Một cây sào dài bốn mét tì vào ngực. Một bàn phím làm bằng mùi. Sensorium 360° hỏi ta hiểu thế giới bằng những giác quan nào.

Thomas Hirschhorn. Flamme éternelle.

167 · 2014

Thomas Hirschhorn. Flamme éternelle.

Mùa xuân 2014, Thomas Hirschhorn chất lốp xe thành chiến luỹ trong Palais de Tokyo, dựng thư viện, quầy bar, diễn đàn quanh một ngọn lửa. Mùi cao su đón người vào.

Brian Goeltzenleuchter. Smelling the City.

168 · 2013

Brian Goeltzenleuchter. Smelling the City.

Một tờ giấy thử mùi, hai bài thơ, hai mùi. Gỗ sồi của một căn nhà cũ và thép của một container. Gấp lại, chúng thành một câu hỏi về nơi ở.

Carsten Höller, Ben Gorham. Insensatus Vol. 1 Fig. 1.

169 · 2013

Carsten Höller, Ben Gorham. Insensatus Vol. 1 Fig. 1.

Ba tuýp kem có mùi, một tuýp kem nền, một hộp gỗ óc chó. Đánh răng trước khi ngủ, và tác phẩm hứa sẽ đổi giấc mơ theo liều lượng.

Kate McLean. Smellmap: Amsterdam.

170 · 2013

Kate McLean. Smellmap: Amsterdam.

Người ta chờ Amsterdam có mùi cần sa. Những người đi bộ ngửi mùi lại tìm thấy bánh waffle, cá trích, sách cũ và mùi quần áo vừa giặt.

Lucy Dodd. Cake 4 Catfish.

171 · 2013

Lucy Dodd. Cake 4 Catfish.

Những tấm vải khổng lồ trải trên sàn, bôi tầm ma, oxit sắt, địa y, trà lên men. Treo lên tường, chúng vẫn còn toả mùi như chưa xong.

Peter de Cupere. Smoke Cloud.

172 · 2013

Peter de Cupere. Smoke Cloud.

Một đám mây trắng lơ lửng trong phòng trưng bày. Leo lên thang, đưa đầu vào giữa, người xem gặp mùi của khói xe và không khí ô nhiễm.

Sissel Tolaas, Christina Agapakis. Selfmade.

173 · 2013

Sissel Tolaas, Christina Agapakis. Selfmade.

Một que bông quệt lên da, một mẻ sữa, vài tuần chờ. Tolaas và Agapakis làm ra những miếng phô mai mang mùi của chính người hiến mẫu.

Wolfgang Laib. Wax Room.

174 · 2013

Wolfgang Laib. Wax Room.

Một căn buồng nhỏ, tường phủ sáp ong, một bóng đèn trần. Người bước vào thấy mùi trước khi thấy màu. Căn phòng vĩnh viễn đầu tiên của Laib trong một bảo tàng.

Christophe Laudamiel. Phantosmia.

175 · 2012

Christophe Laudamiel. Phantosmia.

Sáu chiếc lều nhựa, một mùi thả tự do trong phòng, và bảy công thức được in ra giấy. Một nhà điều hương đòi cho mùi quyền làm tác phẩm.

Martynka Wawrzyniak. Smell Me.

176 · 2012

Martynka Wawrzyniak. Smell Me.

Không ảnh, không tranh, không khuôn mặt. Smell Me là chân dung của một người phụ nữ, dựng lại từ mồ hôi, nước mắt và tóc, để người xem bước vào và ngửi.

The Art of Scent.

177 · 2012

The Art of Scent.

Một phòng trưng bày gần như trống. Ba bức tường có những hốc lõm vừa một người. Nghiêng đầu vào, một mùi nước hoa được thả ra. Không có gì để nhìn.

Wolfgang Georgsdorf. Osmodrama / Smeller 2.0.

178 · 2012

Wolfgang Georgsdorf. Osmodrama / Smeller 2.0.

Smeller 2.0 đưa từng mùi vào phòng theo một luồng khí đi chậm như bước chân, rồi mang nó ra ngoài để mùi sau vào thế chỗ. Mùi thành cảnh, cảnh thành chuyện.

Anicka Yi. Sous-Vide.

179 · 2011

Anicka Yi. Sous-Vide.

Ở 47 Canal năm 2011, mùi hoa chiên đến trước mọi hình ảnh. Rồi nó nhạt dần, và mùi dầu thế chỗ. Triển lãm có một trình tự, và trình tự ấy là mùi.

Maki Ueda. Olfactoscape Ver. 1.

180 · 2010

Maki Ueda. Olfactoscape Ver. 1.

Một vòng rèm đường kính ba mét, nhắm mắt mà đi. Mùi hinoki, hoa anh đào, lá rụng đợi ở từng chỗ. Quang cảnh hiện ra trong người đi, không trên tường.

Ernesto Neto. anthropodino.

181 · 2009

Ernesto Neto. anthropodino.

Một tán vải Lycra khổng lồ, những túi gia vị treo ngang tầm tay, và một sảnh quá rộng để mùi kịp đầy. anthropodino là tác phẩm về khoảng cách giữa mũi và vật.

Haegue Yang. Sallim.

182 · 2009

Haegue Yang. Sallim.

Một căn bếp dựng bằng khung thép, không tường, không nồi đang sôi. Chỉ có ánh đèn, gió quạt, và mùi thức ăn toả ra từ máy. Sallim là mùi của việc vun vén.

Phê bình mùi. Viết về thứ không ai nhìn thấy.

183 · 2008

Phê bình mùi. Viết về thứ không ai nhìn thấy.

Phim có ảnh, nhạc có bản ghi, tranh có bản chụp. Mùi thì không để lại gì ngoài chữ. Penta đọc phê bình mùi như việc để chữ làm thay mắt.

Ferran Adrià. elBulli, Pavilion G tại documenta 12.

184 · 2007

Ferran Adrià. elBulli, Pavilion G tại documenta 12.

Triển lãm diễn ra ở Kassel, còn gian trưng bày thứ G nằm cách đó hơn một nghìn cây số, bên bờ biển Catalonia. Muốn xem tác phẩm, phải ngồi vào bàn ăn.

Peter de Cupere. Air Polluter.

185 · 2007

Peter de Cupere. Air Polluter.

Một bảng điều khiển, hai trường mùi, một hộp rỗng. Người xem chọn thả mùi sạch hay mùi bẩn, nhưng không khí cuối cùng là do mọi người cùng làm ra.

Bản quyền. Một mùi có thuộc về ai?

186 · 2006

Bản quyền. Một mùi có thuộc về ai?

Một chai nước hoa và một chai nhái có mùi gần như nhau. Toà Tối cao Hà Lan phải trả lời: mùi có phải là tác phẩm không? Penta đọc câu trả lời ấy.

Haegue Yang. Series of Vulnerable Arrangements, Version Utrecht.

187 · 2006

Haegue Yang. Series of Vulnerable Arrangements, Version Utrecht.

Không có gì treo trên tường để ngắm. Có hơi nóng, có gió, có một mùi đi qua. Tác phẩm là không khí của căn phòng.

Mathilde Laurent. Điều hương trong nhà.

188 · 2005

Mathilde Laurent. Điều hương trong nhà.

Trong một nhà kim hoàn, vật được đo bằng carat và vết cắt. Một người điều hương ở đó phải làm ra thứ không cầm được, không cân được.

Sissel Tolaas. FEAR.

189 · 2005

Sissel Tolaas. FEAR.

Hai mươi mốt người đàn ông, hai mươi mốt cơn sợ, hai mươi mốt mùi trên một bức tường. Người xem chà tay lên sơn và ngửi nỗi sợ của một người lạ.

Jean-Claude Ellena. Ít mà nhiều.

190 · 2004

Jean-Claude Ellena. Ít mà nhiều.

Một người điều hương sinh ở Grasse, học cách bỏ bớt từ một công thức của người khác, rồi viết nhật ký về nghề mình.

Peter De Cupere. Olfactory Tree.

191 · 2004

Peter De Cupere. Olfactory Tree.

Một thân cây giả, đúc bằng vật liệu tổng hợp. Mắt biết nó không thật. Mũi thì ngửi thấy thông, tuyết tùng, nấm, cỏ và cả một khu rừng.

Pope.L. The Beginning of the World (with Inter-continental Missiles and Chipmunks).

192 · 2004

Pope.L. The Beginning of the World (with Inter-continental Missiles and Chipmunks).

Ở Artists Space năm 2004, Pope.L trét bơ đậu phộng lên cả một bức tường tranh và để nó tự già đi. Một món ăn trẻ con thành một bề mặt khó ngửi.

Hammer Projects: Roger Hiorns.

193 · 2003

Hammer Projects: Roger Hiorns.

Một ngọn lửa bốc lên từ tấm lưới cống. Bọt xà phòng tràn khỏi chậu gốm. Thép thấm nước hoa. Hiorns để vật liệu tự làm phần việc của nghệ sĩ.

Bertrand Duchaufour. Mùi của nơi chốn.

194 · 2002

Bertrand Duchaufour. Mùi của nơi chốn.

Một thành phố cổ, một đêm dưới cây cam, một bức tranh đen. Duchaufour không vẽ những nơi ấy. Ông để lại mùi của chúng.

Sergio Vega. Tropicalounge.

195 · 2002

Sergio Vega. Tropicalounge.

Một phòng khách nhiệt đới ở Venice Biennale 2005, êm như sảnh khách sạn, thơm mùi hoa khô. Sergio Vega hỏi thiên đường ấy được dựng cho ai.

Sylvie Fleury. Aura Soma.

196 · 2002

Sylvie Fleury. Aura Soma.

Một bức tường lọ màu, sáng lên như kệ hàng. Sylvie Fleury đặt trào lưu tâm linh thời thượng vào ngôn ngữ của nghệ thuật tối giản.

Mandy Aftel. Bảo tàng của những mùi lạ.

197 · 2001

Mandy Aftel. Bảo tàng của những mùi lạ.

Một căn nhà nhỏ cuối lối gạch ở Berkeley, đầy ngăn kéo gỗ, sách cổ và nhựa cây. Người ta đến đây để ngửi vật trước khi nó thành nước hoa.

Rivane Neuenschwander. Eatable Alphabet.

198 · 2001

Rivane Neuenschwander. Eatable Alphabet.

Hai mươi sáu tấm tranh sọc ngang, mỗi tấm một chữ cái, màu làm từ açafrão, tiêu đen, cà ri, vừng. Một bảng chữ cái viết bằng gia vị.

Anya Gallaccio. Falling from grace.

199 · 2000

Anya Gallaccio. Falling from grace.

Hàng nghìn quả táo treo lơ lửng. Tuần đầu thơm như rượu táo mùa thu, những tuần sau lên men, rồi mục. Anya Gallaccio để mùi đếm thời gian.

Frédéric Malle. Nhà xuất bản của người điều hương.

200 · 2000

Frédéric Malle. Nhà xuất bản của người điều hương.

Một nhà nước hoa lấy tên theo nghề in sách. Trên mỗi chai là tên của người viết ra mùi, như tên tác giả trên bìa.

Gayil Nalls. World Sensorium.

201 · 2000

Gayil Nalls. World Sensorium.

Một mùi hương làm từ cây thơm của từng quốc gia, định lượng theo dân số. Ai cũng được tính vào, kể cả người không bao giờ ngửi thấy nó.

Wim Delvoye. Cloaca.

202 · 2000

Wim Delvoye. Cloaca.

Một cỗ máy bằng ống thuỷ tinh, bơm và vi khuẩn, được cho ăn như người. Mỗi ngày nó thải ra một lần, và căn phòng biết điều đó bằng mũi.

Clara Ursitti. Pheromone Link TM.

203 · 1997

Clara Ursitti. Pheromone Link TM.

Không ảnh, không tiểu sử, không tin nhắn. Chỉ một chiếc áo phông đã mặc và một con số. Ursitti dựng một công ty mai mối bằng mùi.

Clara Ursitti. The Smell of Fear.

204 · 1996

Clara Ursitti. The Smell of Fear.

Máy phun mùi trông như loa, đèn hồng, và mùi của một ngôi sao đang cố che đi cơ thể mình. Ursitti dựng lại thứ mà khán giả năm xưa không bao giờ ngửi thấy.

Phân tử độc quyền. Sở hữu một mùi.

205 · 1996

Phân tử độc quyền. Sở hữu một mùi.

Có những mùi có chủ trước khi có người ngửi. Chúng nằm trong phòng thí nghiệm của một hãng, chờ bằng sáng chế hết hạn.

Lygia Pape. Luar do Sertão.

206 · 1995

Lygia Pape. Luar do Sertão.

Bỏng ngô trải rộng trên sàn, sáng lên dưới đèn tia cực tím như một vùng đất dưới trăng. Một bài hát quê được dựng lại bằng thứ bán ở rạp chiếu phim.

Anya Gallaccio. Stroke.

207 · 1994

Anya Gallaccio. Stroke.

Những bức tường phủ sô-cô-la đen, một cử chỉ nhỏ nhất có thể. Rồi người xem cào tên, nếm thử, và bề mặt bắt đầu đổi màu.

CK One. Một chai cho hai người.

208 · 1994

CK One. Một chai cho hai người.

Năm 1994, một chai mùi được làm cho bất kỳ ai. CK One không hỏi người mặc là nam hay nữ. Nó chỉ có trà, vỏ cam chanh và một làn xạ hương sạch.

Clara Ursitti. Self-Portrait in Scent, Sketch no. 1.

209 · 1994

Clara Ursitti. Self-Portrait in Scent, Sketch no. 1.

Không ảnh, không chữ, không khuôn mặt. Chỉ một căn phòng kín và một mùi. Clara Ursitti gọi đó là chân dung tự hoạ.

Olivia Giacobetti. Một cái cây và cả bóng của nó.

210 · 1994

Olivia Giacobetti. Một cái cây và cả bóng của nó.

Premier Figuier không kể về một trái sung. Nó dựng cả cái cây: lá, nhựa, cành, và bóng mát bên dưới. Giacobetti làm mùi như người để chừa khoảng trống.

Janine Antoni. Lick and Lather.

211 · 1993

Janine Antoni. Lick and Lather.

Mười bốn tượng bán thân, bảy bằng sô-cô-la, bảy bằng xà phòng. Nghệ sĩ tạc lại gương mặt mình bằng lưỡi và bằng nước tắm.

Clara Ursitti. Eau Claire.

212 · 1992

Clara Ursitti. Eau Claire.

Nước hoa thường được làm để che mùi người. Eau Claire làm ngược lại: nó đóng chai chính cái mùi ấy.

Vòng tròn hương. Đọc lại một tấm bản đồ.

213 · 1992

Vòng tròn hương. Đọc lại một tấm bản đồ.

Một vòng tròn chia thành các họ mùi, họ này trượt sang họ kia. Nó giúp người bán và người mua nói chuyện. Nó không phải là mùi.

Lee Bul. Majestic Splendor.

214 · 1991

Lee Bul. Majestic Splendor.

Kim sa vẫn sáng, con cá bên dưới thì không. Tác phẩm của Lee Bul từng bị gỡ khỏi MoMA vì mùi, và bị rút khỏi Hayward vì một phản ứng hoá học.

Nước hoa người nổi tiếng. Một khuôn mặt trên chai.

215 · 1991

Nước hoa người nổi tiếng. Một khuôn mặt trên chai.

Một khuôn mặt quen trên hộp, một cái tên trên nắp chai. Nước hoa người nổi tiếng mời ta ngửi một hình ảnh. Penta đọc hiện tượng ấy từ phía của vật.

Jean Kerléo. Người giữ những mùi đã mất.

216 · 1990

Jean Kerléo. Người giữ những mùi đã mất.

Một kho lưu trữ cho thứ dễ mất nhất mà con người làm ra. Ở Versailles, mùi của những năm 1880 vẫn còn được mở ra để ngửi.

Jana Sterbak. Vanitas: Flesh Dress for an Albino Anorectic.

217 · 1987

Jana Sterbak. Vanitas: Flesh Dress for an Albino Anorectic.

Một chiếc váy may bằng thịt bò tươi, xát muối, treo trên ma nơ canh. Mỗi ngày trưng bày, nó sẫm lại và co vào một chút.

Richard Wilson. 20:50.

218 · 1987

Richard Wilson. 20:50.

Hai trăm gallon dầu nhớt đã qua sử dụng, một lối đi hẹp, một mặt phẳng đen soi ngược cả căn phòng. Mắt thấy gương. Mũi thấy dầu.

John Waters. Polyester in Odorama.

219 · 1981

John Waters. Polyester in Odorama.

Một tấm thẻ cào, mười con số, mười mùi. Hoa hồng đứng cạnh xăng, pizza đứng cạnh giày bẩn. Odorama bắt khán giả ngửi đúng cái đời sống mà bộ phim chế giễu.

Cildo Meireles. Volátil.

220 · 1980

Cildo Meireles. Volátil.

Một căn phòng ngập bột talc, một mùi gas và một ngọn nến. Không có gì nổ. Nhưng mũi người xem đã kịp sợ trước.

Jan Saudek. My Country in Summertime.

221 · 1975

Jan Saudek. My Country in Summertime.

Một tấm ảnh gelatin bạc không có mùi. Nhưng cái tên của nó có hai: sắt nóng dưới nắng và cỏ khô. Saudek để chữ làm việc mà ảnh không làm được.

Achilles Droungas. A Sense of Smell.

222 · 1973

Achilles Droungas. A Sense of Smell.

Bản in lụa từng tên là Three Purple Roses. Rồi Droungas đổi tên thành A Sense of Smell, và bức tranh không đổi một nét nào mà nghĩa thì đổi hẳn.

Iso E Super. Mùi gần như không ngửi thấy.

223 · 1973

Iso E Super. Mùi gần như không ngửi thấy.

Một mùi gỗ mịn, khô, gần như trong suốt. Người mang nó thường không ngửi thấy gì. Người đi ngang qua thì có. Dấu vết hiện rõ ở khoảng cách.

Cashmere. Một mùi về chạm.

224 · 1970

Cashmere. Một mùi về chạm.

Một chiếc khăn len mềm không có mùi gì đáng kể. Vậy mà có một mùi mang tên nó. Người ta ngửi một thứ, và nghĩ đến việc chạm.

Damascenone. Một phần triệu của hoa hồng.

225 · 1970

Damascenone. Một phần triệu của hoa hồng.

Một phân tử gần như vô hình trong tinh dầu hoa hồng Bulgaria. Rồi người ta gặp lại nó trong trà đen, trong rượu ủ, trong táo nấu.

Dieter Roth. Staple Cheese (A Race).

226 · 1970

Dieter Roth. Staple Cheese (A Race).

Ba mươi bảy chiếc vali, mỗi chiếc một loại pho mát. Một tháng mùa xuân. Nước rỉ xuống sàn, ruồi kéo đến, và gallery vẫn mở cửa.

Ed Ruscha. Chocolate Room.

227 · 1970

Ed Ruscha. Chocolate Room.

Bốn bức tường, 360 tờ giấy, một thứ mực làm từ sô cô la. Căn phòng có mùi ngọt, rồi mềm ra theo thời tiết.

Eduardo Paolozzi. Astute sizing up perfume trends.

228 · 1970

Eduardo Paolozzi. Astute sizing up perfume trends.

Một tờ in ảnh lithograph năm 1970 mang cái tên nghe như tiêu đề báo cáo tiếp thị. Paolozzi nhìn nước hoa như một phần của cỗ máy truyền thông.

Jannis Kounellis. Untitled (12 Horses).

229 · 1969

Jannis Kounellis. Untitled (12 Horses).

Một gara cũ ở Rome, mười hai con ngựa sống đứng dọc tường như những chiếc xe đỗ. Người đến xem ngửi thấy chuồng ngựa trước khi thấy nghệ thuật.

Daniel Spoerri. Restaurant Spoerri.

230 · 1968

Daniel Spoerri. Restaurant Spoerri.

Đĩa bẩn, ly rượu uống dở, gạt tàn đầy. Daniel Spoerri dán chặt chúng lên mặt bàn, dựng đứng lên tường, và gọi đó là tranh.

Irving Penn. 3 Chanel Products, New York.

231 · 1968

Irving Penn. 3 Chanel Products, New York.

Ba sản phẩm Chanel, một phông nền, một tấm phim đen trắng. Hai mươi bốn năm sau, Irving Penn in lại bức ảnh quảng cáo ấy như một tác phẩm.

Jim Nutt. Now! Hairy Who Makes You Smell Good.

232 · 1968

Jim Nutt. Now! Hairy Who Makes You Smell Good.

Một áp phích triển lãm nói bằng giọng của hộp xà bông: Now! Hairy Who Makes You Smell Good. Không ai tin, và đó chính là trò đùa.

Lygia Clark. Máscaras sensoriais.

233 · 1967

Lygia Clark. Máscaras sensoriais.

Sáu chiếc mặt nạ vải che kín đầu. Mắt nhìn qua gương, qua nhôm, qua băng gạc. Mũi ngửi hoa cúc, hương thảo, bạc hà.

Calone. Mùi biển không có trong biển.

234 · 1966

Calone. Mùi biển không có trong biển.

Dưa hấu, vỏ sò, gió mặn. Calone có mùi biển nhưng chưa từng đến từ biển. Người ta nhận ra một nơi trong một phân tử không thuộc về nơi ấy.

Edward Kienholz. The Beanery.

235 · 1965

Edward Kienholz. The Beanery.

Kienholz dựng lại quán bar quen của mình thành một căn phòng bước vào được, có nhạc và có mùi. Bảo tàng giữ tác phẩm, và phải giữ cả cái mùi khó chịu ấy.

Xạ hương trắng. Không có con hươu nào.

236 · 1965

Xạ hương trắng. Không có con hươu nào.

Một cái tên sinh ra từ một con hươu trên núi. Một mùi hôm nay sinh ra trong phòng thí nghiệm. Giữa hai thứ đó, chỉ còn chữ xạ hương.

Carolee Schneemann. Meat Joy.

237 · 1964

Carolee Schneemann. Meat Joy.

Năm 1964, Carolee Schneemann cho người biểu diễn lăn cùng cá sống, gà và sơn ướt. Thịt thành chất liệu. Mùi thành một phần của tác phẩm.

Mùi mưa. Đất ướt trước khi có tên.

238 · 1964

Mùi mưa. Đất ướt trước khi có tên.

Ai cũng biết mùi đất khi cơn mưa đầu mùa rơi xuống. Nhưng mãi đến năm 1964, mùi ấy mới có tên. Và nó đã được đất chuẩn bị suốt cả mùa khô.

Alison Knowles. Proposition #2: Make a Salad.

239 · 1962

Alison Knowles. Proposition #2: Make a Salad.

Một bản nhạc chỉ có ba chữ. Một thùng gỗ mượn làm bát trộn. Alison Knowles làm salad cho khán giả, và việc bếp núc thành tác phẩm.

Hedione. Hoa nhài trong suốt.

240 · 1962

Hedione. Hoa nhài trong suốt.

Một phân tử có mùi nhài nhưng không có sức nặng của nhài. Hedione giống không khí trong vườn hơn là bông hoa. Nó làm căn phòng rộng ra.

Morton Heilig. Sensorama.

241 · 1962

Morton Heilig. Sensorama.

Một người ngồi trong buồng kín, đi xe máy qua New York mà không rời ghế. Gió thổi, ghế rung, và mũi ngửi thấy khói xe buýt. Sensorama ra đời trước thực tế ảo vài chục năm.

Art Shay. Liz Enjoying Smell-O-Vision with Husband Eddie Fisher, Chicago.

242 · 1960

Art Shay. Liz Enjoying Smell-O-Vision with Husband Eddie Fisher, Chicago.

Một bức ảnh đen trắng không giữ được mùi. Nhưng nó giữ được gương mặt của hai người đang cố tỏ ra thích thú trước một cỗ máy bơm mùi vào rạp phim.

Hamada Shōji. Incense Box.

243 · 1960

Hamada Shōji. Incense Box.

Một hộp hương nhỏ bằng gốm sành, nằm ở Tate cạnh bát trà và chén uống nước. Hamada làm nó như làm một vật dùng, không như làm một kỳ quan.

Edmond Roudnitska. Nước hoa là một môn nghệ thuật.

244 · 1956

Edmond Roudnitska. Nước hoa là một môn nghệ thuật.

Mỗi năm hoa linh lan chỉ nở vài tuần. Roudnitska chỉ làm việc với nó trong những tuần ấy, đứng giữa vườn, so công thức với bông hoa thật.

Linh lan. Bông hoa không cho chiết.

245 · 1956

Linh lan. Bông hoa không cho chiết.

Một bông hoa nhỏ, mùi rất rõ, nhưng không chịu vào chai. Mọi mùi linh lan ta từng ngửi trong nước hoa đều là một bức vẽ lại.

Elsa Schiaparelli. Succès Fou.

246 · 1952

Elsa Schiaparelli. Succès Fou.

Một chiếc lá bằng thuỷ tinh xanh, viền vàng, nằm trong hộp giấy lót vải hồng. Trước khi mở nắp, người cầm đã thấy một câu chuyện.

Ambrox. Hổ phách xám không cần cá voi.

247 · 1950

Ambrox. Hổ phách xám không cần cá voi.

Hổ phách xám cần một con cá voi, một đại dương và nhiều năm trôi dạt. Ambrox cần một cánh đồng xô thơm và một phòng thí nghiệm.

Jean Carles. Người dạy mũi.

248 · 1946

Jean Carles. Người dạy mũi.

Một người thầy tin rằng không có cái mũi bẩm sinh, chỉ có trí nhớ được luyện. Về cuối đời, trí nhớ ấy làm việc thay cho mũi.

Germaine Cellier. Mùi không xin phép.

249 · 1944

Germaine Cellier. Mùi không xin phép.

Một mùi da thuộc gắt, một mùi xanh, một mùi huệ dày. Germaine Cellier không làm mềm vật, bà để nó đứng nguyên.

Exposition Internationale du Surréalisme.

250 · 1938

Exposition Internationale du Surréalisme.

Bao than treo trên trần, đèn pin thay cho đèn trần, và mùi cà phê rang trong bóng tối. Triển lãm Siêu thực 1938 là một trong những lần đầu mùi được dùng để dựng không gian.

Ilse Bing. Salut de Schiaparelli.

251 · 1934

Ilse Bing. Salut de Schiaparelli.

Một người phụ nữ nằm giữa những bông loa kèn, viền sáng như bị đảo ngược. Ilse Bing quảng cáo một mùi hương bằng thứ duy nhất ảnh có: ánh sáng.

Filippo Tommaso Marinetti và Fillìa. La cucina futurista.

252 · 1930

Filippo Tommaso Marinetti và Fillìa. La cucina futurista.

Mì Ý bị tuyên án. Ô liu ăn kèm giấy nhám và nhung. Xúc xích ngâm cà phê và nước hoa. Nhóm Vị lai muốn bàn ăn thành một phòng thí nghiệm.

René Lalique cho Molinard. Calendal.

253 · 1929

René Lalique cho Molinard. Calendal.

Một bình xịt nhỏ cao 10 cm, quanh thân là những thiếu nữ khiêu vũ phủ men xanh. Chiếc lọ không chỉ giữ mùi. Nó đẩy mùi ra không khí.

Georges Rouault. Le juste, comme le bois de santal, parfume la hache qui le frappe.

254 · 1926

Georges Rouault. Le juste, comme le bois de santal, parfume la hache qui le frappe.

Người công chính, như gỗ đàn hương, làm thơm lưỡi rìu chặt mình. Một tấm khắc đen trắng mượn mùi để nói về lòng tha thứ.

Da thuộc. Mùi của một quá trình.

255 · 1924

Da thuộc. Mùi của một quá trình.

Mùi da thuộc không đến từ con vật. Nó đến từ nhựa bạch dương, từ lửa, từ những gì người thợ thuộc da đã làm với tấm da.

Aldehyde béo. Mùi của sự sạch.

256 · 1921

Aldehyde béo. Mùi của sự sạch.

Sáp nến vừa tắt, vỏ cam, bàn là nóng trên vải. Aldehyde béo không tả một vật nào. Chúng tả một trạng thái: khô, sáng, vừa được giặt.

Marcel Duchamp. Belle Haleine, Eau de Voilette.

257 · 1921

Marcel Duchamp. Belle Haleine, Eau de Voilette.

Duchamp lấy một lọ nước hoa bán sẵn, thay nhãn, đổi hai chữ cái. Violette thành voilette, hoa tím thành mạng che mặt. Nước hoa thành một câu hỏi về danh tính.

N°5. Một con số thay cho bông hoa.

258 · 1921

N°5. Một con số thay cho bông hoa.

Một con số thay cho tên hoa. Aldehyde ở liều cao thay cho bản sao của hoa. N°5 cùng thời với hội hoạ bỏ hình, và nó cũng bỏ hình của hoa.

Ernest Daltroff. Khói thuốc trên găng tay.

259 · 1919

Ernest Daltroff. Khói thuốc trên găng tay.

Năm 1919, một nhà nước hoa nhỏ ở Paris làm ra mùi da thuộc và thuốc lá, dành cho những phụ nữ vừa bắt đầu hút thuốc nơi công cộng.

Mitsouko. Một cái tên từ tiểu thuyết.

260 · 1919

Mitsouko. Một cái tên từ tiểu thuyết.

Mitsouko mượn tên một nhân vật tiểu thuyết, nhưng giữ lại vật: rêu sồi đắng và một trái đào chín. Câu chuyện có thể quên. Rêu và trái thì còn.

Chypre de Coty. Một hòn đảo trong chai.

261 · 1917

Chypre de Coty. Một hòn đảo trong chai.

Chypre là tên tiếng Pháp của đảo Síp. Sau năm 1917, nó thành tên của một cấu trúc: vỏ cam sáng trên nền rêu đắng. Hòn đảo mờ đi, rêu thì còn.

Henning. Hình lăng trụ của một mùi.

262 · 1916

Henning. Hình lăng trụ của một mùi.

Sáu đỉnh, ba mặt chữ nhật, hai mặt tam giác. Một nhà tâm lý học ở Frankfurt thử cho thứ không có hình một hình khối.

René Lalique cho Coty. Cyclamen.

263 · 1909

René Lalique cho Coty. Cyclamen.

Một lọ thuỷ tinh cao 14 cm, tên người làm nước hoa và tên người làm lọ đúc chung trên một bề mặt. Từ đây, chiếc lọ không còn đứng sau mùi hương.

Alexander Scriabin. Mysterium.

264 · 1903

Alexander Scriabin. Mysterium.

Bảy ngày âm thanh, ánh sáng, lửa và mùi hương dưới chân Himalaya. Scriabin mất năm 1915 khi Mysterium mới là vài chục trang phác thảo.

Sadakichi Hartmann. A Trip to Japan in Sixteen Minutes.

265 · 1902

Sadakichi Hartmann. A Trip to Japan in Sixteen Minutes.

Một chuyến đi sang Nhật không cần tàu, chỉ cần mũi. Năm 1902, Sadakichi Hartmann thử làm một buổi hoà nhạc bằng mùi, và khán giả không chịu nghe.

Fabergé. Miniature Easter Egg with Scent Bottle.

266 · 1899

Fabergé. Miniature Easter Egg with Scent Bottle.

Một quả trứng bằng đá, dài hơn tám phân, bên trong là chỗ cho một mùi. Fabergé đặt hương vào đúng hình của mùa Phục sinh.

Odilon Redon. Puis l'ange prit l'encensoir.

267 · 1899

Odilon Redon. Puis l'ange prit l'encensoir.

Một thiên thần, một lư hương, một làn khói bốc lên trong nền đen. Redon vẽ khoảnh khắc lời cầu nguyện sắp hoá thành lửa.

Zwaardemaker. Chín lớp mùi và một cái máy.

268 · 1895

Zwaardemaker. Chín lớp mùi và một cái máy.

Một ống thuỷ tinh cong, một ống trụ có mùi, một thước chia vạch. Ở Utrecht cuối thế kỷ 19, mùi được đo bằng centimet.

Jicky. Một mùi không kể về hoa.

269 · 1889

Jicky. Một mùi không kể về hoa.

Jicky không bắt chước một bông hoa nào. Nó dựng một mùi chưa có ngoài tự nhiên, bằng oải hương và những phân tử mới của thế kỷ mười chín.

Musk nitro. Một phát hiện và một lệnh cấm.

270 · 1888

Musk nitro. Một phát hiện và một lệnh cấm.

Một mùi xạ hương sinh ra từ phòng thí nghiệm thuốc nổ. Nó ở lại rất lâu trên vải, trong nước, trong cơ thể. Chính sự ở lại ấy khiến nó phải rời đi.

Fougère Royale. Cây dương xỉ không có mùi.

271 · 1882

Fougère Royale. Cây dương xỉ không có mùi.

Dương xỉ gần như không có mùi. Paul Parquet vẫn đặt tên chai theo nó, rồi dựng bằng oải hương, rêu sồi và coumarin một khu rừng chưa ai từng ngửi.

Suzuki Chōkichi. Incense Burner.

272 · 1877

Suzuki Chōkichi. Incense Burner.

Một gốc cây bằng đồng, rễ bám đất, trên đó đôi chim công đứng cạnh một lư hương. Cao 228,6 cm. Làm để một quốc gia được nhìn thấy ở Paris.

Hổ phách. Một mùi không đến từ hổ phách.

273 · 1874

Hổ phách. Một mùi không đến từ hổ phách.

Một viên hổ phách trong tay gần như không có mùi. Mùi amber mà ta biết được dựng từ nhựa cistus, vani và cánh kiến trắng. Chữ đi trước, mùi đi sau.

Jules Chéret cho Eugène Rimmel. Rimmel almanac.

274 · 1874

Jules Chéret cho Eugène Rimmel. Rimmel almanac.

Một cuốn lịch chín phân, bốn cảnh in đá màu lấy từ văn chương châu Âu. Nhà nước hoa Rimmel dùng hình để nói về thứ không nhìn thấy được.

Vanillin. Vani không cần quả.

275 · 1874

Vanillin. Vani không cần quả.

Một phân tử có trong quả vani, trong thùng gỗ sồi, trong trang sách cũ. Năm 1874, nó được làm ra từ cây lá kim. Mùi vẫn vậy, nguồn thì khác.

Auguste Adolphe Willms, Elkington & Co. Perfume burner.

276 · 1873

Auguste Adolphe Willms, Elkington & Co. Perfume burner.

Mặt ngoài phủ men xanh, đỏ, tím. Mặt trong để trần, sần như đá. Một lư xông hương thời Victoria cho ta thấy nó được làm ra như thế nào.

Tiffany & Co. Fern and Daisy Perfume Bottle.

277 · 1870

Tiffany & Co. Fern and Daisy Perfume Bottle.

Một lọ nước hoa bạc dài chừng mười hai phân, chạm dương xỉ và cúc. Khu vườn được làm bằng kim loại, còn mùi thì nằm yên bên trong.

Coumarin. Cỏ khô trong ống nghiệm.

278 · 1868

Coumarin. Cỏ khô trong ống nghiệm.

Cỏ khô, hạt tonka, lá phơi nắng. Năm 1868, mùi ấy lần đầu được làm ra mà không cần cánh đồng. Cỏ đã khô, mùi vẫn còn.

Eugène Rimmel. Rimmel's programme fan.

279 · 1868

Eugène Rimmel. Rimmel's programme fan.

Một chiếc quạt giấy in tên vở diễn ở mặt trước, quảng cáo nước hoa ở mặt sau. Đêm ấy, sảnh nhà hát Gaiety có những đài phun nước thơm.

Tự nhiên hay tổng hợp. Một tranh luận mỹ học.

280 · 1868

Tự nhiên hay tổng hợp. Một tranh luận mỹ học.

Một cánh hoa và một phân tử. Tranh luận tự nhiên hay tổng hợp thường bị kéo về an toàn và tiếp thị. Penta đọc nó như một câu hỏi về vẻ đẹp và về vật.

Nhật Bản. Incense Box in the Shape of Five Volumes of The Tale of Genji.

281 · 1867

Nhật Bản. Incense Box in the Shape of Five Volumes of The Tale of Genji.

Một hộp hương nhỏ bằng lòng bàn tay, giả hình năm cuốn sách Genji monogatari buộc trong bìa gấm. Văn chương thành cái vỏ cho mùi gỗ.

Piesse. Thang âm của mùi.

282 · 1862

Piesse. Thang âm của mùi.

Hạnh nhân, vani, heliotrope cùng một nốt. Xạ cầy ở nốt cao nhất. Một người làm hương London thử viết mùi bằng khuông nhạc.

Tử đinh hương. Một mùi phải dựng lại.

283 · 1857

Tử đinh hương. Một mùi phải dựng lại.

Một chùm hoa tím nở vài tuần mỗi xuân. Mùi của nó ai cũng nhớ, nhưng trong chai, nó luôn là một bức chân dung vẽ theo trí nhớ.

Nhật Bản, thời Edo. Ten-round incense game set.

284 · 1856

Nhật Bản, thời Edo. Ten-round incense game set.

Một bộ đồ chơi đoán hương trong hồi môn của một cô dâu năm 1856. Món đồ nhỏ, cuộc hôn nhân thì mang cả một liên minh chính trị.

Pierre-François-Pascal Guerlain. Nước cho hoàng hậu.

285 · 1853

Pierre-François-Pascal Guerlain. Nước cho hoàng hậu.

Một loại nước thơm nhẹ, dùng mỗi ngày, làm cho một hoàng hậu. Đế chế đã mất từ lâu. Cái tên Impériale vẫn còn trên chai.

Utagawa Kunisada. Kō o hakobu neya karadaki.

286 · 1852

Utagawa Kunisada. Kō o hakobu neya karadaki.

Một người đứng cạnh tấm bình phong. Hương đã đốt, phòng đã thơm. Cái tên nói rằng tất cả là vô ích. Còn lại một tờ tranh thiếu hai tờ kia.

Nhật Bản. Incense Box with Scene from The Tale of Genji.

287 · 1850

Nhật Bản. Incense Box with Scene from The Tale of Genji.

Hai vỏ sò sơn mài khớp vào nhau, bên trên là cảnh chương Hoàng tử thơm. Một hộp đựng hương kể chuyện một người mang mùi từ lúc sinh ra.

Utagawa Kunisada. Ka ni sasou haru no tsumeoto.

288 · 1849

Utagawa Kunisada. Ka ni sasou haru no tsumeoto.

Một cái tên như câu thơ: mùi xuân mời gọi tiếng móng gảy đàn koto. Kunisada đặt khứu giác và thính giác vào cùng một khung tranh.

Honoré Daumier. L'Odorat.

289 · 1839

Honoré Daumier. L'Odorat.

Một người đàn ông đội mũ, một bệ cửa sổ, năm chậu cây. Daumier vẽ khứu giác bằng cảnh đời thường nhất của một thị dân Paris.

Jean Marie Farina. Lọ Eau de Cologne.

290 · 1825

Jean Marie Farina. Lọ Eau de Cologne.

Một lọ thuỷ tinh cao, một mảnh nhãn giấy in còn nguyên sau gần hai thế kỷ. Trên nhãn, một lời khẳng định: đây là Eau de Cologne thật nhất.

Yanagawa Shigenobu I. Scenting a kimono with incense.

291 · 1815

Yanagawa Shigenobu I. Scenting a kimono with incense.

Một tờ tranh khắc gỗ vuông vức, một người phụ nữ, một chiếc kimono và làn khói bên dưới. Áo được mặc vào sau khi đã đi qua mùi.

Josiah Wedgwood and Sons. Pastille Burner, Dolphin Tripod.

292 · 1807

Josiah Wedgwood and Sons. Pastille Burner, Dolphin Tripod.

Ba con cá heo đỡ một bát đất đen. Bên trong, viên than trộn dầu thơm cháy âm ỉ để át mùi phòng kín và cống rãnh. Một chiếc đèn dầu đã đổi nghề.

Claude Galle. Perfume burner.

293 · 1800

Claude Galle. Perfume burner.

Đồng đúc, chạm, mạ vàng hai màu. Cao gần một mét. Một vật làm ra để khói có chỗ đứng giữa căn phòng Đế chế.

Jan Ekels the Younger. Conversation Piece (The Sense of Smell).

294 · 1791

Jan Ekels the Younger. Conversation Piece (The Sense of Smell).

Không có hoa, không có nữ thần. Khứu giác trong tranh Ekels là khói tẩu, một ly rượu và ba người chung một căn phòng kín.

Puqua. Man Making Incense Sticks.

295 · 1790

Puqua. Man Making Incense Sticks.

Một người áo lam ngồi ở đầu tấm ván dài. Phía sau, hai bàn chất đầy nhang. Bức tranh vẽ cho người châu Âu, và giữ lại một thứ ít ai vẽ: người làm ra khói.

Josiah Wedgwood and Sons. Scent Bottle.

296 · 1785

Josiah Wedgwood and Sons. Scent Bottle.

Một lọ đựng hương tròn, xanh, vừa lòng bàn tay. Hai mặt là hai gương mặt hoàng gia bằng đất trắng. Bên trong là một mùi không còn ai biết.

Không rõ tác giả. Pair of perfume burners.

297 · 1785

Không rõ tác giả. Pair of perfume burners.

Hai chiếc lư đồng cao hơn nửa mét, nửa vàng nửa sẫm. Bên trong từng có một ngọn lửa nhỏ, hâm nóng viên hương cho căn phòng.

Joseph-Marie Vien. Allegory of Smell.

298 · 1775

Joseph-Marie Vien. Allegory of Smell.

Vien vẽ khứu giác bằng một chiếc khăn xếp, một lư hương và một vòng hoa. Chiếc khăn chỉ về châu Á, nơi trầm và hương từng được chở sang châu Âu.

Franz Xaver Messerschmidt. The Strong Smell.

299 · 1770

Franz Xaver Messerschmidt. The Strong Smell.

Mắt nhắm chặt, cằm hất lên, môi mím lại. Một gương mặt bằng kim loại đang chịu đựng một mùi mà ta không bao giờ ngửi được.

Sèvres, Jean-Claude Duplessis. Pot pourri Pompadour.

300 · 1765

Sèvres, Jean-Claude Duplessis. Pot pourri Pompadour.

Một bình sứ trắng, cổ đục lỗ, thân vẽ vòng hoa. Mùi đi ra từ những lỗ ấy. Vòng hoa vẽ bên ngoài là lời giải thích cho mũi.

Chelsea Porcelain Manufactory. Perfume vase.

301 · 1761

Chelsea Porcelain Manufactory. Perfume vase.

Một chiếc bình sứ cao hơn bốn mươi phân, có nắp, đặt trên bệ lò sưởi. Bên trong là cánh hoa khô, và căn phòng thơm theo.

Dành dành. Bông hoa trắng không giữ được.

302 · 1761

Dành dành. Bông hoa trắng không giữ được.

Sáng nở trắng, chiều đã ngả màu kem, hôm sau vàng úa. Dành dành đổi nhanh hơn ta kịp gọi tên, và mùi của nó chỉ giữ được bằng cách dựng lại.

James 'Athenian' Stuart, Diederich Nicolaus Anderson. Perfume Burner.

303 · 1760

James 'Athenian' Stuart, Diederich Nicolaus Anderson. Perfume Burner.

Một kiến trúc sư vẽ nhà, vẽ trần, vẽ cửa. Rồi vẽ luôn vật toả mùi cho căn phòng. Dáng của nó mượn từ bàn tế lễ Hy Lạp.

Sèvres, Jean-Claude Duplessis. Pair of Vases (Pots Pourris à Bobèches).

304 · 1759

Sèvres, Jean-Claude Duplessis. Pair of Vases (Pots Pourris à Bobèches).

Hai chiếc bình sứ cắm nến. Dưới chân là hoa khô hoặc viên hương. Mùi thoát qua các lỗ chạm, và những bông hoa sứ trên đỉnh trông như đang toả hương.

Linnaeus. Bảy lớp mùi của nhà phân loại.

305 · 1752

Linnaeus. Bảy lớp mùi của nhà phân loại.

Người đặt tên cho cây cối cũng thử đặt tên cho mùi. Bảy lớp, từ thơm đến buồn nôn, in trong một luận văn mười sáu trang ở Uppsala.

Charles Gouyn. Lọ đựng hương.

306 · 1749

Charles Gouyn. Lọ đựng hương.

Một thiếu nữ bằng sứ ôm giỏ hoa, cao chưa tới 9 cm, gắn kim loại mạ vàng đính đá. Bên trong là một chút nước thơm. Người thời ấy gọi những vật như thế là đồ chơi.

Eberlein và Kändler (Meissen). Smell.

307 · 1745

Eberlein và Kändler (Meissen). Smell.

Hoa ở mũi, lư hương dưới tay, con chó cúi xuống đất. Một bức tượng sứ cao 28 cm gom ba cách ngửi vào cùng một chỗ.

François Boucher. Smell.

308 · 1720

François Boucher. Smell.

Một thiếu nữ, một cái bình bốc khói, một ông lão dâng giỏ hoa. Boucher vẽ khứu giác trong một nước Trung Hoa ông chưa từng đến.

Bắc Ấn Độ. Perfume Sprinkler.

309 · 1700

Bắc Ấn Độ. Perfume Sprinkler.

Một bình thuỷ tinh nhỏ vẽ sen và hoa, từng đựng nước hoa hồng để rảy trong ngày hội. Hoa bên ngoài nói thay cho mùi bên trong.

Edme Bouchardon. The Sense of Smell.

310 · 1700

Edme Bouchardon. The Sense of Smell.

Một bản vẽ phấn đỏ không do tay người vẽ chạm trực tiếp. Nó là phần phấn còn lại sau một lần ép giấy, và nó vẽ khứu giác.

Tomoharu. Set of incense utensils.

311 · 1700

Tomoharu. Set of incense utensils.

Bảy món bạc nhỏ trong một ống bạc chạm hoa. Mỗi món giữ một động tác trong nghi thức nghe hương. Bàn tay lùi lại, mùi gỗ tiến lên.

Nonomura Ninsei. Incense Burner.

312 · 1660

Nonomura Ninsei. Incense Burner.

Một chiếc tù và ốc bằng gốm, men trong, chấm nâu sắt. Nó không để thổi. Nó để khói hương đi qua chỗ hơi thở từng đi qua.

Franz Cleyn. Smell (Odor).

313 · 1655

Franz Cleyn. Smell (Odor).

Một dải giấy dài hai gang tay. Ở giữa, một phụ nữ đội vòng hoa đưa bông hoa lên mặt. Quanh cô, cả một khu vườn trang trí.

Chen Mingyuan. Tripod Incense Burner.

314 · 1650

Chen Mingyuan. Tripod Incense Burner.

Một lư hương bằng đất tử sa, cao 4,8 cm, của một trong những thợ gốm Nghi Hưng nổi tiếng nhất đời Thanh. Nhỏ đến mức chỉ hợp với một cái bàn.

Đế chế Mughal. Rosewater sprinkler.

315 · 1650

Đế chế Mughal. Rosewater sprinkler.

Một bình bạc cổ dài để rảy nước hoa hồng lên khách. Làm ở Nam Á, rồi mang huy hiệu của một bá tước Anh dưới đế.

Không rõ tác giả, lò Cảnh Đức Trấn. Incense Burner with the Eighteen Luohans.

316 · 1645

Không rõ tác giả, lò Cảnh Đức Trấn. Incense Burner with the Eighteen Luohans.

Sứ trắng, men lam, mười tám vị La Hán cưỡi hổ, gọi rồng, đạp mây. Làm năm 1645, giữa lúc một triều đại đang tan.

Abraham Bosse. L'Odorat.

317 · 1638

Abraham Bosse. L'Odorat.

Không nữ thần, không thần thoại. Bosse vẽ khứu giác bằng một đôi người Paris thời Louis XIII, một khu vườn và hai con chó đang đánh hơi.

Jusepe de Ribera. Boy with a Pot of Flowers. The Sense of Smell.

318 · 1637

Jusepe de Ribera. Boy with a Pot of Flowers. The Sense of Smell.

Cậu bé không đưa hoa lên mũi. Cậu chỉ ôm chậu hoa và nhìn người xem. Một bức tranh về khứu giác mà không ai trong tranh đang ngửi.

Nhật Bản. Incense Game Set.

319 · 1615

Nhật Bản. Incense Game Set.

Một hộp sơn mài chứa 144 thẻ ngà, dao, thớt, bếp than và nghiên mực. Tất cả để đoán ba mùi gỗ, rồi ghi lại ai đoán đúng.

Không rõ tác giả, châu Âu. Pomander and vinaigrette.

320 · 1600

Không rõ tác giả, châu Âu. Pomander and vinaigrette.

Sáu ngăn đánh số, mỗi ngăn một nắp trượt, mỗi nắp một ô để khắc tên. Đáy vặn ra là một hộp giấm thơm. Mùi hương được xếp như trong một tủ thuốc.

Raphael Sadeler I theo Maarten de Vos. Smell.

321 · 1581

Raphael Sadeler I theo Maarten de Vos. Smell.

Một phụ nữ ngồi dưới gốc cây, xếp hoa vào bình, hai con chó chơi dưới chân. Trên mép giấy, hai cái tên: người nghĩ ra hình và người khắc nó.

Iran thời Safavid, gốm Kubachi. Tile with a Portrait of a Young Man Inhaling the Perfume of a Flower.

322 · 1575

Iran thời Safavid, gốm Kubachi. Tile with a Portrait of a Young Man Inhaling the Perfume of a Flower.

Một viên gạch vuông hơn 22 cm, ba màu dưới lớp men trong, một chàng trai và một bông hoa. Cả một hơi thở được giữ trong lòng gốm hơn bốn trăm năm.

Jost Amman. The Sense of Smell.

323 · 1575

Jost Amman. The Sense of Smell.

Một người phụ nữ đi qua cánh đồng, nhành hoa sát mũi, giỏ hoa trên tay. Quanh cô là một khung trang trí dày gấp mấy lần cảnh chính.

Marcantonio Raimondi, theo Raphael. The Incense Burner.

324 · 1520

Marcantonio Raimondi, theo Raphael. The Incense Burner.

Một lư hương lớn, hai thiếu nữ nâng hai bên, biểu tượng của một ông vua. Không có khói. Chỉ còn hình dáng của nghi thức trên giấy.

Martin Schongauer. The Censer.

325 · 1470

Martin Schongauer. The Censer.

Tháp nhọn, mái vòm, thiên thần và những ô đục thủng để khói đi ra. Schongauer khắc một chiếc lư hương như khắc một toà nhà.

Incense burner in the shape of a goose.

326 · 1400

Incense burner in the shape of a goose.

Một con ngỗng bằng đồng rộng gần nửa mét, đúc đầu thế kỷ 15. Nó nhắc lại một kiểu lư đã có từ hơn một nghìn năm trước.

Không rõ tác giả, Trung Hoa hoặc Nhật Bản. Incense burner (kōro).

327 · 1400

Không rõ tác giả, Trung Hoa hoặc Nhật Bản. Incense burner (kōro).

Cao 7,6 cm. Hợp kim đồng. Một hiệu đề của thế kỷ 15, một thời kỳ ghi thế kỷ 18, hai quốc gia có thể là quê. Chiếc lư nhỏ này giữ nhiều câu hỏi hơn khói.

Hàn Quốc, đầu thời Joseon. Incense box.

328 · 1392

Hàn Quốc, đầu thời Joseon. Incense box.

Một chiếc hộp sắt nhỏ, khảm tơ vàng và bạc. Nó không đốt gì cả. Nó chỉ giữ hương cho tới lúc được đốt.

Không rõ tác giả, London hoặc East Anglia. The Ramsey Abbey Incense Boat.

329 · 1350

Không rõ tác giả, London hoặc East Anglia. The Ramsey Abbey Incense Boat.

Một chiếc thuyền bạc nhỏ, hai đầu là hai đầu cừu đực nhô lên từ sóng. Nó đựng hương cho nhà thờ, rồi nằm dưới đáy hồ cho tới khi hồ bị tháo cạn.

Không rõ tác giả, Ý. Pomander.

330 · 1350

Không rõ tác giả, Ý. Pomander.

Cao 6,5 cm, hình quả táo, mở ra thành bốn múi. Mỗi múi mang tên một nhân vật trong chuyện Paris và quả táo vàng. Có thể là một món quà tình yêu.

Incense Box (Kogo) with Pines and Plovers.

331 · 1300

Incense Box (Kogo) with Pines and Plovers.

Một chiếc hộp sơn mài dài chưa tới mười centimet, vẽ thông, chim choi choi và vỏ sò. Nó có thể từng đựng phấn nhuộm răng trước khi đựng hương.

Ja'far ibn Muhammad ibn 'Ali. Incense Burner of Amir Saif al-Dunya wa'l-Din ibn Muhammad al-Mawardi.

332 · 1181

Ja'far ibn Muhammad ibn 'Ali. Incense Burner of Amir Saif al-Dunya wa'l-Din ibn Muhammad al-Mawardi.

Một con sư tử bằng đồng, thân chạm lỗ, đầu tháo rời. Bỏ than vào, khói thơm thoát ra từ khắp người nó. Trên thân còn ghi tên người đặt, người làm và năm.

Incense Burner in the Form of a Duck.

333 · 1100

Incense Burner in the Form of a Duck.

Một con chim nước bằng sứ đậu trên bông sen. Khi hương cháy, khói đi ra từ mỏ nó, như hơi thở.

Teardrop-shaped Perfume Container with Birds, Foliage, and Flowers.

334 · 960

Teardrop-shaped Perfume Container with Birds, Foliage, and Flowers.

Một hộp hương bằng vàng dài chưa tới chín phân, dẹt như một chiếc lá. Mùi hương ở đây không đứng yên trong phòng. Nó đi theo người.

Không rõ tác giả, Việt Nam. Incense Burner with Dragon Spout.

335 · 1

Không rõ tác giả, Việt Nam. Incense Burner with Dragon Spout.

Cao 15,9 cm. Đồng. Một cái vòi hình rồng. Ba thế kỷ để đoán năm làm ra. Hồ sơ nói rất ít, và chính khoảng trống ấy đáng nhìn.

Olfactory Art. Nghệ thuật khứu giác.

336 · —

Olfactory Art. Nghệ thuật khứu giác.

Mùi không nhìn thấy được, không giữ nguyên được, và không ai ngửi giống ai. Nghệ thuật khứu giác lấy chính những điều đó làm chất liệu.

Mountain-Shaped Incense Burner.

337 · 100 TCN · BC

Mountain-Shaped Incense Burner.

Một chiếc nắp đồng hình núi, cao chưa tới một gang tay. Khi hương cháy, khói đi qua các lỗ và ngọn núi có mây.

Theophrastus. Mùi trong khu vườn của Aristotle.

338 · 322 TCN · BC

Theophrastus. Mùi trong khu vườn của Aristotle.

Hơn hai nghìn năm trước, một người ở Athens ghi lại rằng hoa toả mùi từ xa, còn rễ phải đập ra mới thơm. Ông quan sát trước, giải thích sau.

Ai Cập cổ đại. Relief Showing a Seated Woman Smelling the Blossom of a Water Lily.

339 · 1981 TCN · BC

Ai Cập cổ đại. Relief Showing a Seated Woman Smelling the Blossom of a Water Lily.

Tóc dài tết sợi, một bông hoa súng sát mũi, một cột chữ tượng hình màu đỏ bên cạnh. Một cử chỉ ngửi được khắc vào đá gần bốn nghìn năm trước.