← Essays · 317 bài

Visual.

Photography, contemporary art, modern art, fashion as design.


On Kawara. I Got Up.

01 · 1979

On Kawara. I Got Up.

Mỗi ngày một tấm bưu thiếp, một con dấu, một giờ thức dậy. Không có gì hơn. Và chính điều đó là tác phẩm.

Burberry. The Burberry Trench: Crafting an Icon.

02 · 2026

Burberry. The Burberry Trench: Crafting an Icon.

Một chiếc áo khoác sinh ra để chịu mưa và bùn. Một thế kỷ sau, nó nằm trong tủ kính V&A, vẫn giữ nguyên cái cổ bẻ và sợi đai.

Fashion: the 18th century, a fantasized legacy.

03 · 2026

Fashion: the 18th century, a fantasized legacy.

Chiếc áo nịt của Marie Antoinette, những váy couture sau Thế chiến, một hình ảnh drag năm 2021. Một thế kỷ được mặc lại nhiều lần.

Paul Poiret: Fashion is a Feast.

04 · 2025

Paul Poiret: Fashion is a Feast.

Một chiếc váy không corset, một xưởng nước hoa, một ngôi trường, ba chiếc sà lan trên sông Seine. Ở MAD Paris, Poiret hiện ra như một người dựng cả một thế giới.

Rick Owens, Temple of Love.

05 · 2025

Rick Owens, Temple of Love.

Túi quân đội, chăn nhà binh, da đã giặt. Ở Palais Galliera, Rick Owens dựng một ngôi đền bằng màu đen, màu bụi và những vật từng có đời sống khác.

Mire Lee. Open Wound.

06 · 2024

Mire Lee. Open Wound.

Mire Lee biến Turbine Hall thành một nhà máy sống: tuabin quay chậm, chất lỏng rỉ xuống, những lớp da vải được nhúng, phơi rồi kéo lên trần.

Stephen Jones. Chapeaux d'artiste.

07 · 2024

Stephen Jones. Chapeaux d'artiste.

Hơn 170 chiếc mũ, 40 bộ trang phục, bốn thập kỷ cộng tác với các nhà mốt Paris. Một vật nhỏ đặt ở chỗ dễ thấy nhất của cơ thể.

El Anatsui. Behind the Red Moon.

08 · 2023

El Anatsui. Behind the Red Moon.

Từ xa là một cánh buồm, một mặt trăng đỏ, một bức tường đen. Lại gần là hàng nghìn nắp chai rượu, mỗi cái mang một cái nhãn và một lộ trình buôn bán.

Gabrielle Chanel. Fashion Manifesto.

09 · 2023

Gabrielle Chanel. Fashion Manifesto.

Một chiếc áo thuỷ thủ bằng lụa, một bộ vest tweed, một chai nước hoa mang tên một con số. Ở V&A, tuyên ngôn của Chanel được viết bằng vật.

Iris van Herpen. Sculpting the Senses.

10 · 2023

Iris van Herpen. Sculpting the Senses.

In 3D, cắt laser, thổi thuỷ tinh, dệt bằng lực điện từ. Iris van Herpen may những chiếc váy mượn hình của nước, xương và những hệ thống đang lớn.

Africa Fashion.

11 · 2022

Africa Fashion.

Vải adire nhuộm chàm, ảnh studio ở Cameroon, một chiếc trench phủ hình bàn tay. Africa Fashion cho thấy một châu lục ăn mặc bằng nhiều giọng.

Cecilia Vicuña. Brain Forest Quipu.

12 · 2022

Cecilia Vicuña. Brain Forest Quipu.

Người Andes không viết, họ thắt dây. Cecilia Vicuña treo hai sợi dây nhớ cao 27 mét trong Turbine Hall, để chúng nhớ một khu rừng đang mất.

Fashioning Masculinities: The Art of Menswear.

13 · 2022

Fashioning Masculinities: The Art of Menswear.

Khoảng 100 bộ trang phục và 100 tác phẩm nghệ thuật tại V&A năm 2022, chia thành ba phòng: cởi ra, mặc nhiều, mặc lại. Nam tính hoá ra là thứ được may đo.

Refik Anadol. Unsupervised: Machine Hallucinations, MoMA.

14 · 2022

Refik Anadol. Unsupervised: Machine Hallucinations, MoMA.

Refik Anadol cho một cỗ máy xem gần như cả kho ảnh số của MoMA, rồi để nó mơ trên một màn hình lớn trong sảnh bảo tàng suốt gần một năm.

Shocking! Les mondes surréalistes d'Elsa Schiaparelli.

15 · 2022

Shocking! Les mondes surréalistes d'Elsa Schiaparelli.

Hồi cố Elsa Schiaparelli tại MAD Paris năm 2022 đặt váy áo của bà cạnh Dalí, Cocteau, Man Ray. Thời trang và Siêu thực chung một câu hỏi: vật này đang ở đâu?

Libraries, Museums and A Theatre.

16 · 2021

Libraries, Museums and A Theatre.

Những căn phòng công cộng được chụp lúc không còn ai. Ghế trống, kệ sách đầy, ánh sáng đi chậm qua cửa sổ. Căn phòng tự kể về những người từng ở đó.

Thierry Mugler, Couturissime.

17 · 2021

Thierry Mugler, Couturissime.

Áo giáp, cánh côn trùng, người máy bằng kim loại. Ở MAD Paris, triển lãm về Thierry Mugler được chia thành nhiều hồi như một vở opera.

Kimono: Kyoto to Catwalk.

18 · 2020

Kimono: Kyoto to Catwalk.

Từ chiếc áo khoác ngoài Kyoto thế kỷ 19 đến áo choàng của Obi-Wan Kenobi. Một dáng áo thẳng, đi qua ba thế kỷ và nhiều lục địa.

Irina Rozovsky. Miracle Center.

19 · 2019

Irina Rozovsky. Miracle Center.

Một bức ảnh chụp hôm qua, một chiếc khung cũ hàng chục năm. Đặt vào nhau, chúng thành một vật nhỏ có thể cầm trong tay.

Iñaki Bonillas. Marginalia.

20 · 2019

Iñaki Bonillas. Marginalia.

Viền trắng, mép giấy, mẩu vụn trên sàn xưởng. Iñaki Bonillas nhìn vào phần nhiếp ảnh vẫn bỏ đi, và thấy ở đó một bức ảnh khác.

Kara Walker. Fons Americanus.

21 · 2019

Kara Walker. Fons Americanus.

Kara Walker dựng một đài phun nước bốn tầng theo dáng Đài tưởng niệm Victoria, rồi để nước kể lại lịch sử buôn bán nô lệ qua Đại Tây Dương.

Mary Quant.

22 · 2019

Mary Quant.

Triển lãm Mary Quant tại V&A năm 2019 đến 2020 nhìn lại người đưa thời trang trẻ, giá vừa phải ra phố London. Nhiều chiếc váy còn giữ dấu gấu được nhắn lên.

Tuan Andrew Nguyen. The Specter of Ancestors Becoming.

23 · 2019

Tuan Andrew Nguyen. The Specter of Ancestors Becoming.

Sau Điện Biên Phủ, hàng trăm phụ nữ Việt theo chồng lính Senegal sang châu Phi. Con cháu họ hôm nay viết lại những cuộc trò chuyện chưa từng có.

Virgil Abloh.

24 · 2019

Virgil Abloh. "Figures of Speech".

Một tấm biển trạm xăng nghiêng, những kệ giày, một chiếc túi bị xích vào bệ. Ở MCA Chicago, Virgil Abloh đưa vật của đường phố vào phòng trưng bày.

Fashioned from Nature.

25 · 2018

Fashioned from Nature.

Cánh bọ cánh cứng trên váy muslin, lông chim trĩ trên mũ, giấy bóng kính thành áo khoác. Mọi bộ áo đều bắt đầu từ một nơi nào đó ngoài xưởng may.

Frida Kahlo. Making Her Self Up.

26 · 2018

Frida Kahlo. Making Her Self Up.

Những món đồ riêng của Frida Kahlo bị cất kín năm mươi năm sau khi bà mất. Ở V&A năm 2018, chúng lần đầu rời Mexico.

Hilma af Klint: Paintings for the Future.

27 · 2018

Hilma af Klint: Paintings for the Future.

Hơn 170 tác phẩm trên đường dốc xoắn ốc của Guggenheim. Những bức tranh vẽ cho một ngôi đền chưa từng được xây, và cho một thời mà người vẽ biết mình sẽ không thấy.

Hiroshi Sugimoto. Opticks.

28 · 2018

Hiroshi Sugimoto. Opticks.

Không có vật nào trong ảnh. Chỉ có màu của ánh sáng sau khi đi qua lăng kính, và những chỗ màu này chuyển sang màu kia.

Lawrence Abu Hamdan. Walled Unwalled.

29 · 2018

Lawrence Abu Hamdan. Walled Unwalled.

Hai mươi phút độc thoại trong một phòng thu cũ ở Berlin, về những điều đã đi xuyên qua tường và trở thành bằng chứng.

Margiela, les années Hermès.

30 · 2018

Margiela, les années Hermès.

Sáu năm, mười hai bộ sưu tập, hai nhà mốt. Ở MAD Paris, màu cam Hermès và màu trắng Margiela đứng chung một lối đi.

Richard Learoyd. Nature Morte.

31 · 2018

Richard Learoyd. Nature Morte.

Một bông anh túc còn sống đặt cạnh một bông đã héo. Learoyd để ánh sáng in thẳng hai bông hoa lên giấy, không qua phim, không qua bản sao.

teamLab Borderless: MORI Building DIGITAL ART MUSEUM.

32 · 2018

teamLab Borderless: MORI Building DIGITAL ART MUSEUM.

Ở teamLab Borderless, tác phẩm không ở yên trong phòng. Chúng đi lại, chạm vào nhau, đổi theo người đứng xem. Người xem phải tự tìm đường.

Alec Soth. I Know How Furiously Your Heart Is Beating.

33 · 2017

Alec Soth. I Know How Furiously Your Heart Is Beating.

Một người ngồi trong phòng mình. Ánh sáng từ cửa sổ. Một bình hoa. Ta thấy hết, trừ điều đang diễn ra bên trong họ.

Balenciaga: Shaping Fashion.

34 · 2017

Balenciaga: Shaping Fashion.

Hơn một trăm bộ trang phục và mũ, những tấm ảnh chụp X-quang, những bản rập được dựng lại. V&A không chỉ bày váy. Họ mở váy ra để xem nó đứng được bằng gì.

Christian Dior, couturier du rêve.

35 · 2017

Christian Dior, couturier du rêve.

Triển lãm kỷ niệm 70 năm nhà Dior ở Paris đi từ phòng tranh Dior từng mở, qua xưởng may, tới sáu người kế nghiệp. Một cái tên được đọc lại nhiều lần.

Dawoud Bey. Night Coming Tenderly, Black.

36 · 2017

Dawoud Bey. Night Coming Tenderly, Black.

Rừng, nhà, bãi cỏ, tất cả gần như chìm vào bóng tối. Dawoud Bey hình dung đêm Ohio qua mắt những người trốn chạy chế độ nô lệ.

J.P. Sniadecki, Joshua Bonnetta. El Mar La Mar.

37 · 2017

J.P. Sniadecki, Joshua Bonnetta. El Mar La Mar.

Ba năm, phim 16mm, một sa mạc có đường biên đi qua. Sniadecki và Bonnetta không quay biên giới. Họ quay những gì sa mạc giữ lại.

SUPERFLEX. One Two Three Swing!

38 · 2017

SUPERFLEX. One Two Three Swing!

Một đường ống cam, những chiếc xích đu ba chỗ. Một người thì đu. Ba người cùng nhịp thì bay.

Vera Lutter. Museum in the Camera.

39 · 2017

Vera Lutter. Museum in the Camera.

Một phòng tranh châu Âu, phơi sáng suốt bảy tháng. Toà nhà giờ không còn. Chỉ tờ giấy âm bản nhớ nó.

Arthur Jafa. Love Is the Message, the Message Is Death.

40 · 2016

Arthur Jafa. Love Is the Message, the Message Is Death.

Khoảng bảy phút, hàng trăm mảnh hình ảnh, một bài hát. Niềm vui và bạo lực nối nhau không có khoảng nghỉ.

Fashion Forward, 3 siècles de mode.

41 · 2016

Fashion Forward, 3 siècles de mode.

Ba trăm bộ trang phục, ba thế kỷ, một nhà biên đạo múa dựng dáng đứng cho từng thời. Áo trong kho chờ một cơ thể để kể lại.

Jorge Otero-Pailos. The Ethics of Dust.

42 · 2016

Jorge Otero-Pailos. The Ethics of Dust.

Một lớp latex phun lên bức tường cổ nhất của Quốc hội Anh rồi bóc ra, mang theo bụi của nhiều thế kỷ. Tấm màn ấy được treo lại ngay cạnh bức tường.

MIYAKE ISSEY EXHIBITION: The Work of Miyake Issey.

43 · 2016

MIYAKE ISSEY EXHIBITION: The Work of Miyake Issey.

Bốn mươi lăm năm áo của Issey Miyake trong ba phòng ở Tokyo. Một mảnh vải phẳng, một nếp gấp, một cơ thể bước vào.

Robert Irwin. untitled (dawn to dusk).

44 · 2016

Robert Irwin. untitled (dawn to dusk).

Một toà nhà bê tông hình chữ C, những dãy cửa sổ, hai bức màn vải đen và trắng. Không có gì treo trên tường. Tác phẩm là ánh sáng đi qua trong một ngày.

Tenue correcte exigée, quand le vêtement fait scandale.

45 · 2016

Tenue correcte exigée, quand le vêtement fait scandale.

Chiếc quần của phụ nữ, chiếc váy ngắn, bộ vest cổ Mao ở Quốc hội Pháp. Mỗi tai tiếng là một luật lệ bị lộ ra.

Undressed: A Brief History of Underwear.

46 · 2016

Undressed: A Brief History of Underwear.

Một chiếc corset bằng bông và xương cá voi, một váy lót nhồi lông ngỗng, một chiếc váy giả corset. Lớp áo ít ai thấy lại quyết định dáng của mọi lớp bên ngoài.

Zoe Leonard. Al río / To the River.

47 · 2016

Zoe Leonard. Al río / To the River.

Một dòng sông chảy, và người ta vẽ một đường biên lên nó. Zoe Leonard đi dọc dòng nước ấy suốt nhiều năm để nhìn xem nó thật ra là gì.

Abraham Cruzvillegas. Empty Lot.

48 · 2015

Abraham Cruzvillegas. Empty Lot.

Đất từ công viên khắp London, đèn, nước mỗi ngày, và không một hạt giống nào được gieo. Empty Lot để đất tự quyết định thứ gì sẽ mọc.

Gauri Gill. Acts of Appearance.

49 · 2015

Gauri Gill. Acts of Appearance.

Mặt nạ không còn là thần linh. Chúng là người quen, con vật, đồ vật trong làng. Gauri Gill chụp người đeo chúng giữa một ngày bình thường.

Hito Steyerl. Factory of the Sun.

50 · 2015

Hito Steyerl. Factory of the Sun.

Trong một studio lưới xanh, những người lao động bị buộc nhảy múa. Mỗi chuyển động của họ được đổi thành ánh nắng nhân tạo.

Joel Meyerowitz. Morandi's Objects.

51 · 2015

Joel Meyerowitz. Morandi's Objects.

Chai lọ, vỏ ốc, hộp thiếc, hoa giả. Meyerowitz đặt từng món lên mặt bàn của Morandi và chụp bằng ánh sáng của chính căn phòng.

John Akomfrah. Vertigo Sea.

52 · 2015

John Akomfrah. Vertigo Sea.

Cá voi, sóng, thuyền người di cư, những con tàu nô lệ. John Akomfrah đặt chúng cạnh nhau trên ba màn hình và để biển làm người kể chuyện.

Julian Rosefeldt. Manifesto.

53 · 2015

Julian Rosefeldt. Manifesto.

Mười ba màn hình, một diễn viên, những tuyên ngôn nghệ thuật cũ đọc lên giữa đời thường hôm nay. Lời vẫn thế, căn phòng thì khác.

Nguyễn Trinh Thi. Letters from Panduranga.

54 · 2015

Nguyễn Trinh Thi. Letters from Panduranga.

Một người phụ nữ ở Ninh Thuận, một người đàn ông đi dọc miền Trung. Họ viết thư cho nhau, và tự hỏi mình có quyền quay phim người Chăm hay không.

Rachel Rose. Everything and More.

55 · 2015

Rachel Rose. Everything and More.

Rachel Rose ghép lời kể của một phi hành gia với cảnh nước và chất lỏng trôi, để hỏi thân thể còn lại gì khi trọng lực biến mất.

Sohrab Hura. Snow.

56 · 2015

Sohrab Hura. Snow.

Năm mùa đông ở Kashmir. Tuyết phủ trắng mọi thứ, rồi tan dần và để lộ những gì bên dưới. Sohrab Hura chụp cả hai.

Susan Philipsz. War Damaged Musical Instruments.

57 · 2015

Susan Philipsz. War Damaged Musical Instruments.

Mười bốn nhạc cụ bộ hơi hư hại trong chiến tranh, cố thổi lại khúc hiệu tiễn biệt. Cái còn nghe được nhiều nhất là hơi thở.

Takashi Homma. Tokyo Obscura.

58 · 2015

Takashi Homma. Tokyo Obscura.

Cửa sổ dán giấy đen, khe sáng dán băng keo, một lỗ nhỏ mở ra thành phố. Căn phòng trở thành máy ảnh, và Tokyo hiện lên lộn ngược.

Taryn Simon. Paperwork and the Will of Capital.

59 · 2015

Taryn Simon. Paperwork and the Will of Capital.

36 bó hoa dựng lại từ ảnh các buổi ký kết quốc tế, hơn 4.000 mẫu hoa từ chợ đấu giá Aalsmeer, 12 khối bê tông ép tiêu bản.

Apichatpong Weerasethakul. Fireworks (Archives).

60 · 2014

Apichatpong Weerasethakul. Fireworks (Archives).

Đêm ở một công viên tượng vùng Isan. Pháo hoa loé lên, soi những con thú bằng xi măng trong một khoảnh khắc rồi tắt.

Bill Viola, Kira Perov. Martyrs (Earth, Air, Fire, Water).

61 · 2014

Bill Viola, Kira Perov. Martyrs (Earth, Air, Fire, Water).

Bốn người, bốn nguyên tố, bốn màn hình dọc cuối lối đi trong St Paul's. Martyrs không kể chuyện hy sinh. Nó cho ta nhìn một người đứng vững.

Dayanita Singh. Museum of Chance.

62 · 2014

Dayanita Singh. Museum of Chance.

Một bảo tàng bằng gỗ, một cuốn sách có 44 bìa khác nhau, hai chiếc vali. Dayanita Singh để sự tình cờ sắp xếp ảnh của mình.

Kara Walker. A Subtlety, or the Marvelous Sugar Baby.

63 · 2014

Kara Walker. A Subtlety, or the Marvelous Sugar Baby.

Một người phụ nữ hình nhân sư phủ đường trắng, nằm giữa nhà kho có tường dính mật mía. Vị ngọt được đặt lại trước lịch sử của nó.

Liz Deschenes. Gallery 7.

64 · 2014

Liz Deschenes. Gallery 7.

Không máy ảnh, không hình. Chỉ có giấy ảnh phơi dưới ánh sáng ban đêm, những tấm bạc và xanh đứng giữa phòng, phản chiếu người đi qua.

Newsha Tavakolian. Blank Pages of an Iranian Photo Album.

65 · 2014

Newsha Tavakolian. Blank Pages of an Iranian Photo Album.

Một buổi sinh nhật. Một giờ nghỉ ở trường đại học. Một ngày trên bờ biển Caspian. Những trang album của một thế hệ Iran, có trang còn để trống.

Phyllida Barlow. dock.

66 · 2014

Phyllida Barlow. dock.

Bảy khối điêu khắc bằng vật liệu rẻ tiền chắn ngang một sảnh tân cổ điển dài trăm mét. Người xem phải đi vòng, cúi đầu, ngước lên.

Pierre Huyghe. Untitled (Human Mask).

67 · 2014

Pierre Huyghe. Untitled (Human Mask).

Một con khỉ đeo mặt nạ và tóc giả, đi lại trong một quán rượu không còn khách. Thói quen vẫn chạy, dù người đã đi.

The Propeller Group. The Living Need Light, the Dead Need Music.

68 · 2014

The Propeller Group. The Living Need Light, the Dead Need Music.

Một đám tang ở đồng bằng sông Cửu Long có kèn đồng, có người khóc thuê, có người diễn xiếc đường phố. Buồn và vui đi cùng một đoàn.

Camille Henrot. Grosse Fatigue.

69 · 2013

Camille Henrot. Grosse Fatigue.

Một bàn tay mở từng cửa sổ trên màn hình, một giọng đọc kể chuyện khai thiên lập địa. Camille Henrot cho thấy tham vọng gom hết tri thức mệt mỏi đến mức nào.

Hito Steyerl. How Not to Be Seen: A Fucking Didactic Educational .MOV File.

70 · 2013

Hito Steyerl. How Not to Be Seen: A Fucking Didactic Educational .MOV File.

Hito Steyerl làm một bài giảng video về cách không bị nhìn thấy. Nó buồn cười, rồi đáng sợ, rồi lại buồn cười.

James Turrell. Aten Reign.

71 · 2013

James Turrell. Aten Reign.

Vòm rotunda của Guggenheim thành một khối ánh sáng lồng nhau, đổi màu chậm đến mức mắt không bắt kịp. Tác phẩm là thứ vẫn luôn ở đó: không khí giữa những bức tường.

Laure Prouvost. Wantee.

72 · 2013

Laure Prouvost. Wantee.

Tên tác phẩm đến từ câu hỏi quen miệng của một người phụ nữ: want tea? Laure Prouvost dựng quanh câu hỏi ấy cả một gia đình hư cấu và đoạt giải Turner.

Wolfgang Laib. Pollen from Hazelnut.

73 · 2013

Wolfgang Laib. Pollen from Hazelnut.

Gần hai mươi năm thu hái phấn hoa phỉ, trải thành một hình chữ nhật vàng trên sàn MoMA. Không khung, không bệ.

Yayoi Kusama. Infinity Mirrored Room: The Souls of Millions of Light Years Away.

74 · 2013

Yayoi Kusama. Infinity Mirrored Room: The Souls of Millions of Light Years Away.

Cửa đóng lại. Gương bốn phía, nước dưới chân, đèn nhấp nháy trên đầu. Khoảng 45 giây sau, cửa mở ra, và người xem trở về căn phòng hữu hạn.

Dayanita Singh. File Museum.

75 · 2012

Dayanita Singh. File Museum.

Kệ sắt gỉ, bao tải, rương, những chồng giấy buộc dây. Dayanita Singh chụp kho hồ sơ Ấn Độ và dựng cho ảnh một kho lưu trữ bằng gỗ.

Harun Farocki. Parallel I-IV.

76 · 2012

Harun Farocki. Parallel I-IV.

Bốn video về đồ hoạ trò chơi điện tử, từ những đường kẻ thô đến những thế giới gần như thật. Farocki hỏi: cái gì còn thiếu?

Ragnar Kjartansson. The Visitors.

77 · 2012

Ragnar Kjartansson. The Visitors.

Chín nhạc sĩ, mỗi người một phòng trong một dinh thự cũ, cùng hát đi hát lại một bài ca ngắn trong hơn một giờ.

Random International. Rain Room.

78 · 2012

Random International. Rain Room.

Bước vào mưa mà không ướt. Rain Room của Random International dùng camera để mưa lùi lại quanh mỗi người, và hỏi ta đang điều khiển hay đang bị theo dõi.

Rinko Kawauchi. Ametsuchi.

79 · 2012

Rinko Kawauchi. Ametsuchi.

Mỗi mùa xuân, người dân vùng Aso đốt đồng cỏ như tổ tiên họ đã làm. Kawauchi đứng trong khói ấy và nhìn lên trời.

Thomas Ruff. Photograms.

80 · 2012

Thomas Ruff. Photograms.

Photogram vốn là bóng của vật đặt lên giấy ảnh. Thomas Ruff làm photogram mà không cần vật, không cần giấy, không cần phòng tối thật.

Zanele Muholi. Somnyama Ngonyama (Hail the Dark Lioness).

81 · 2012

Zanele Muholi. Somnyama Ngonyama (Hail the Dark Lioness).

Miếng cọ nồi thành mũ, găng cao su thành vương miện, làn da được đẩy tối hơn. Zanele Muholi tự chụp mình để hỏi ai được quyền nhìn ai.

Lee Ufan. Relatum.

82 · 2011

Lee Ufan. Relatum.

Đá không được đẽo. Thép không được uốn. Lee Ufan chỉ đặt chúng cạnh nhau, và để khoảng giữa làm việc còn lại.

Lisa Oppenheim. Smoke.

83 · 2011

Lisa Oppenheim. Smoke.

Khói từ một vụ nổ giếng dầu năm 1913, từ ảnh trinh sát thời chiến, từ cuộc bạo loạn ở London năm 2011. Oppenheim in chúng bằng que diêm và đèn khò.

Rinko Kawauchi. Illuminance.

84 · 2011

Rinko Kawauchi. Illuminance.

Một vũng nước, một bàn tay, một vệt nắng trên tường. Illuminance không có câu chuyện, chỉ có nhịp của những trang ảnh đặt cạnh nhau.

Tacita Dean. FILM.

85 · 2011

Tacita Dean. FILM.

Mười một phút phim câm chiếu vòng, dựng đứng như một tấm bia. Tacita Dean không quay về phim. Bà để phim tự đứng ra làm chứng cho chính nó.

Yayoi Kusama. Infinity Mirrored Room: Filled with the Brilliance of Life.

86 · 2011

Yayoi Kusama. Infinity Mirrored Room: Filled with the Brilliance of Life.

Một lối đi hẹp băng qua mặt nước tối. Quanh người xem, hàng trăm đốm sáng đổi màu, nhân lên trong gương. Chỉ có một con đường, và nó dẫn ra chính cánh cửa đã vào.

Ai Weiwei. Sunflower Seeds.

87 · 2010

Ai Weiwei. Sunflower Seeds.

Nhìn xa, một cánh đồng xám. Nhìn gần, từng hạt sứ nhỏ đều được nặn và vẽ riêng. Sunflower Seeds đặt cái một bên cạnh cái nhiều.

Catherine Opie. 700 Nimes Road.

88 · 2010

Catherine Opie. 700 Nimes Road.

Hộp mũ trên thảm lông màu oải hương. Váy trong hộp trong suốt. Một chiếc bàn đầu giường. Elizabeth Taylor không xuất hiện, nhưng ở khắp nơi.

Christian Marclay. The Clock.

89 · 2010

Christian Marclay. The Clock.

Hai mươi bốn giờ phim, mỗi phút trên màn hình trùng với phút ngoài đời. Xem phim cũng là xem giờ.

Danh Võ. We The People.

90 · 2010

Danh Võ. We The People.

Một bản sao Tượng Nữ thần Tự do đúng kích thước, chia thành khoảng 250 mảnh đồng mỏng như hai đồng xu chồng lên nhau. Không bao giờ được lắp lại.

Do Ho Suh. Staircase-III.

91 · 2010

Do Ho Suh. Staircase-III.

Một cầu thang bằng vải đỏ mỏng, treo lơ lửng trên đầu người xem. Không ai bước lên được. Do Ho Suh may lại một phần ngôi nhà để mang nó theo như một ký ức.

Future Beauty: 30 Years of Japanese Fashion.

92 · 2010

Future Beauty: 30 Years of Japanese Fashion.

Issey Miyake, Rei Kawakubo, Yohji Yamamoto và những người đến sau. Ở Barbican, ba mươi năm thời trang Nhật được đọc như một cuộc trò chuyện qua nhiều thế hệ.

Isaac Julien. Ten Thousand Waves.

93 · 2010

Isaac Julien. Ten Thousand Waves.

Hai mươi ba người nhặt sò chết đuối trong một đêm triều lên. Isaac Julien dựng lại họ bằng chín màn hình, một nữ thần và một thành phố.

Mariko Mori. Tom Na H-iu.

94 · 2010

Mariko Mori. Tom Na H-iu.

Giữa một cái ao trong rừng tre, một khối thuỷ tinh cao đứng im. Nó chỉ sáng lên khi ở rất xa, một ngôi sao chết đi và gửi tới đây một hạt gần như vô hình.

Rei Naito, Ryue Nishizawa. Matrix.

95 · 2010

Rei Naito, Ryue Nishizawa. Matrix.

Không có tranh, không có tượng. Chỉ có nước rỉ lên từ nền, gió lùa qua hai ô trống, và người ngồi nhìn.

Rosa Barba. The Hidden Conference.

96 · 2010

Rosa Barba. The Hidden Conference.

Rosa Barba mang máy quay 35mm vào kho bảo tàng ở Berlin, Rome và London. Tranh và tượng đang chờ được treo trở thành nhân vật của một bộ phim.

Apichatpong Weerasethakul. Primitive.

97 · 2009

Apichatpong Weerasethakul. Primitive.

Ở Nabua, người già ít nói về những năm quân đội chiếm làng. Apichatpong đến sống cùng lớp trẻ, và cùng họ dựng một con tàu vũ trụ.

Bharti Kher. confess.

98 · 2009

Bharti Kher. confess.

Bên ngoài là gỗ sẫm và cửa sổ nhỏ. Bên trong, hàng trăm chiếc bindi xoáy thành hoa văn, và một bóng đèn treo giữa trần.

Bieke Depoorter. Ou Menya.

99 · 2009

Bieke Depoorter. Ou Menya.

Một mảnh giấy ghi vài câu tiếng Nga. Một cánh cửa mở ra. Một chiếc ghế sofa thành giường cho một đêm. Sáng hôm sau, lại đi.

Haegue Yang. Series of Vulnerable Arrangements, Voice and Wind.

100 · 2009

Haegue Yang. Series of Vulnerable Arrangements, Voice and Wind.

Rèm nhôm, quạt điện và sáu mùi công nghiệp mang tên những nơi chốn. Haegue Yang hỏi: vì sao người ta muốn đóng chai một ngôi chùa hay một làn sương biển?

Lieko Shiga. Rasen Kaigan (Spiral Shore).

101 · 2009

Lieko Shiga. Rasen Kaigan (Spiral Shore).

Một nhiếp ảnh gia về sống ở làng biển, chụp dân làng bằng đèn flash và màu gắt. Rồi sóng thần đến, và bà bắt đầu nhặt lại những tấm ảnh biển trả về.

Mona Hatoum. Impenetrable.

102 · 2009

Mona Hatoum. Impenetrable.

Từ xa là một khối lập phương mờ ảo lơ lửng. Lại gần là hàng trăm thanh thép gai. Không ai bước vào được.

Richard Long. Cornish Slate Ellipse.

103 · 2009

Richard Long. Cornish Slate Ellipse.

Những phiến đá phiến cắt từ mỏ ở Cornwall, dựng nghiêng sát nhau trong một đường elip căng bằng dây. Mỗi lần trưng bày, tác phẩm được xếp lại từ đầu.

Sheela Gowda. Behold.

104 · 2009

Sheela Gowda. Behold.

Ở Karnataka, người ta buộc vài sợi tóc lên cản xe để tránh tai nạn. Sheela Gowda gỡ những sợi tóc ấy ra, tết thành bốn cây số dây, rồi treo lại cả những chiếc cản xe.

Zoe Leonard. Analogue.

105 · 2009

Zoe Leonard. Analogue.

Mười một năm, một chiếc Rolleiflex cũ, những cửa tiệm nhỏ sắp đóng cửa. Zoe Leonard chụp lại chúng trước khi chúng thành ký ức.

Christian Boltanski. Les Archives du Cœur.

106 · 2008

Christian Boltanski. Les Archives du Cœur.

Một kho lưu trữ không chứa chữ, không chứa ảnh. Chỉ chứa tiếng tim đập của những người đã từng ghé qua.

Olafur Eliasson. The New York City Waterfalls.

107 · 2008

Olafur Eliasson. The New York City Waterfalls.

Bốn thác nước nhân tạo, cao gần bằng một toà nhà mười tầng, đổ nước sông trở lại chính dòng sông. Olafur Eliasson không thêm gì vào East River, trừ sự chú ý.

Roger Hiorns. Seizure.

108 · 2008

Roger Hiorns. Seizure.

Một căn hộ nhỏ ở Elephant & Castle, đổ đầy dung dịch rồi rút cạn. Thứ còn lại là một hang tinh thể xanh lam, và một bồn tắm.

Zoe Leonard. You see I am here after all.

109 · 2008

Zoe Leonard. You see I am here after all.

Một con thác, gần bốn nghìn tấm bưu thiếp, một đường chân trời chạy dọc tường. Zoe Leonard cho thấy một nơi chốn được nhìn lại bao nhiêu lần.

Cao Fei. RMB City: A Second Life City Planning by China Tracy.

110 · 2007

Cao Fei. RMB City: A Second Life City Planning by China Tracy.

Qua avatar China Tracy, Cao Fei quy hoạch một thành phố chỉ tồn tại trong thế giới ảo. Video sáu phút là bản phác thảo đầu tiên của nó.

Ishiuchi Miyako. ひろしま hiroshima.

111 · 2007

Ishiuchi Miyako. ひろしま hiroshima.

Một chiếc váy, một đôi găng, một chiếc áo. Ishiuchi Miyako không chụp Hiroshima như thảm họa. Bà chụp từng người qua món đồ họ đã mặc.

Roni Horn. Vatnasafn / Library of Water.

112 · 2007

Roni Horn. Vatnasafn / Library of Water.

Một thư viện không còn sách. Thay vào đó là nước từ các sông băng Iceland, đứng trong 24 cột thuỷ tinh, trên sàn chữ về thời tiết.

Trevor Paglen. The Other Night Sky.

113 · 2007

Trevor Paglen. The Other Night Sky.

Giữa những chòm sao quen thuộc có một vệt sáng mảnh. Đó là một vệ tinh do thám mà chính phủ không công bố. Paglen tính trước giờ nó bay qua.

Anish Kapoor. Sky Mirror.

114 · 2006

Anish Kapoor. Sky Mirror.

Một tấm gương thép lõm giữa New York. Nó không cho người ta nhìn nó. Nó cho người ta nhìn bầu trời, lộn ngược.

Cai Guo-Qiang. Head On.

115 · 2006

Cai Guo-Qiang. Head On.

Con sói đầu đàn đâm vào tường. Cả bầy vẫn lao theo sau. Năm 2006, ở Berlin, Cai Guo-Qiang dựng một cú va chạm không bao giờ kết thúc.

Carsten Höller. Test Site.

116 · 2006

Carsten Höller. Test Site.

Năm cái ống xoắn ốc, một cú thả mình, vài giây chóng mặt. Test Site hỏi điều gì xảy ra trong ta khi cơ thể được phép đi trước suy nghĩ.

Gerhard Richter. Cage.

117 · 2006

Gerhard Richter. Cage.

Sáu tấm toan vuông gần ba mét, vẽ khi Richter nghe nhạc John Cage. Không có nét cọ nào đáng kể. Thanh gạt kéo sơn đi, và những lớp màu cũ lộ ra.

Hiroshi Sugimoto. Lightning Fields.

118 · 2006

Hiroshi Sugimoto. Lightning Fields.

Một tia điện chạm vào tấm phim và để lại hình một cái cây. Không có máy ảnh nào chứng kiến. Chỉ có vết.

Mikhael Subotzky. Beaufort West.

119 · 2006

Mikhael Subotzky. Beaufort West.

Một thị trấn nằm đúng nửa đường từ Cape Town lên Johannesburg. Xe chạy qua. Nhà tù đứng giữa vòng xoay. Người ở lại thì sống quanh nó.

Rafael Lozano-Hemmer. Pulse Room.

120 · 2006

Rafael Lozano-Hemmer. Pulse Room.

Nắm lấy cảm biến, một bóng đèn sáng theo nhịp tim bạn. Buông tay, nhịp ấy đi vào hàng đèn, đẩy nhịp của người trước đi xa hơn.

Sohrab Hura. Life is Elsewhere.

121 · 2005

Sohrab Hura. Life is Elsewhere.

Một người mẹ, một con chó, một ngôi nhà nhiều ổ khoá. Người con cầm máy ảnh, vừa ở trong, vừa muốn đi xa.

Bruce Nauman. Raw Materials.

122 · 2004

Bruce Nauman. Raw Materials.

Một sảnh lớn không có gì để nhìn. Chỉ có giọng nói, gần rồi xa, chồng lên nhau khi người ta bước qua.

Sol LeWitt. Wall Drawing #1136.

123 · 2004

Sol LeWitt. Wall Drawing #1136.

Một bức vẽ tường có thể bị sơn phủ, rồi vẽ lại ở nơi khác bởi những bàn tay khác. Cái được giữ lại là một bản vẽ, một lá thư và một tờ chứng nhận.

Wolfgang Tillmans. Freischwimmer 54.

124 · 2004

Wolfgang Tillmans. Freischwimmer 54.

Không máy ảnh, không âm bản, không vật để chụp. Chỉ có ánh sáng đi qua giấy trong phòng tối, và một vệt màu còn lại.

Anish Kapoor. Ishi's Light.

125 · 2003

Anish Kapoor. Ishi's Light.

Bên ngoài là một vỏ trứng màu đá. Bên trong là một màu đỏ gần như đen, phản chiếu người đứng trong nó thành một hình khác.

Anri Sala. Dammi i colori.

126 · 2003

Anri Sala. Dammi i colori.

Một thành phố hậu cộng sản, những bức tường xám được sơn màu mới. Anri Sala quay Tirana về đêm và hỏi màu sắc có thể làm gì.

Dinh Q. Lê. From Vietnam to Hollywood.

127 · 2003

Dinh Q. Lê. From Vietnam to Hollywood.

Đinh Q. Lê cắt ảnh thành dải và đan chúng như đan chiếu. Khung hình phim Hollywood và gương mặt người Việt vô danh nằm chung một tấm.

Olafur Eliasson. The weather project.

128 · 2003

Olafur Eliasson. The weather project.

Một nửa vòng tròn đèn vàng, một trần gương khổng lồ, một làn sương. Người ta nằm xuống sàn và nhìn chính mình trên trần.

Olafur Eliasson. Yellow versus Purple.

129 · 2003

Olafur Eliasson. Yellow versus Purple.

Một đĩa kính, một ngọn đèn, một động cơ nhỏ. Bóng vàng đổi hình trên tường, vệt tím đi vòng quanh phòng, và người xem bước vào giữa hai màu.

Taryn Simon. An American Index of the Hidden and Unfamiliar.

130 · 2003

Taryn Simon. An American Index of the Hidden and Unfamiliar.

Viên nang phóng xạ, một con gấu đang ngủ đông, trụ sở CIA. Mỗi ảnh một dòng chú thích, như một mục trong bản kiểm kê những thứ nằm ngoài tầm mắt.

Anish Kapoor. Marsyas.

131 · 2002

Anish Kapoor. Marsyas.

Ba vòng thép, một màng đỏ sẫm căng qua cả sảnh Turbine Hall. Không có chỗ nào đứng để thấy hết. Người xem phải tự ghép tác phẩm từ những lần gặp từng phần.

Omer Fast. CNN Concatenated.

132 · 2002

Omer Fast. CNN Concatenated.

Mỗi chữ đến từ một khuôn mặt khác, một bản tin khác. Ghép lại, chúng nói một điều không ai trong số họ từng nói.

Rirkrit Tiravanija. untitled (he promised).

133 · 2002

Rirkrit Tiravanija. untitled (he promised).

Một khung nhà sáng bóng dựng giữa bảo tàng. Không có gì để ngắm lâu. Tác phẩm chỉ bắt đầu khi có người bước vào và làm một việc chung.

Tribute in Light.

134 · 2002

Tribute in Light.

Mỗi năm một đêm, 88 bóng đèn dựng lại hai toà tháp bằng ánh sáng. Sáng ra, chúng tắt. Chỗ trống lại trở về.

Cildo Meireles. Babel.

135 · 2001

Cildo Meireles. Babel.

Một toà tháp làm bằng radio. Tất cả cùng nói, nhỏ, cùng lúc. Không ai hiểu được, và đó là điều tác phẩm muốn cho nghe.

Jeremy Deller. The Battle of Orgreave.

136 · 2001

Jeremy Deller. The Battle of Orgreave.

Mười bảy năm sau cuộc đụng độ giữa thợ mỏ đình công và cảnh sát, Jeremy Deller đưa nó trở lại cánh đồng cũ, với chính những người từng có mặt.

Jun Nguyen-Hatsushiba. Memorial Project Nha Trang, Vietnam.

137 · 2001

Jun Nguyen-Hatsushiba. Memorial Project Nha Trang, Vietnam.

Dưới đáy biển Nha Trang, những người đánh cá kéo xích lô qua cát, lên mặt nước lấy hơi, rồi lặn xuống kéo tiếp. Mười ba phút của một đài tưởng niệm biết chuyển động.

LaToya Ruby Frazier. The Notion of Family.

138 · 2001

LaToya Ruby Frazier. The Notion of Family.

Ba thế hệ phụ nữ, một thị trấn thép đang tàn. Frazier cho thấy lịch sử một nơi chốn in lên cơ thể người sống ở đó.

Michael Landy. Break Down.

139 · 2001

Michael Landy. Break Down.

Mười bốn ngày, một băng chuyền dài 100 mét, 7.227 món đồ. Khi xong việc, Michael Landy không còn sở hữu gì.

Rachel Whiteread. Untitled (Stairs).

140 · 2001

Rachel Whiteread. Untitled (Stairs).

Một cầu thang ba chiếu nghỉ, đúc thành khối, xoay chín mươi độ. Rachel Whiteread giữ lại ngôi nhà mới của mình đúng như lúc bà tìm thấy nó.

Richard Misrach. On the Beach.

141 · 2001

Richard Misrach. On the Beach.

Không có bờ, không có chân trời. Chỉ có mặt nước và một thân người nhỏ nổi giữa đó. Misrach nhìn xuống từ trên cao.

Rinko Kawauchi. Utatane.

142 · 2001

Rinko Kawauchi. Utatane.

Một cuốn sách ảnh đầu tay, một cái tên nghĩa là giấc ngủ chợp. Utatane nhìn đời thường bằng đôi mắt vừa mở, chưa kịp tỉnh hẳn.

Ishiuchi Miyako. Mother's.

143 · 2000

Ishiuchi Miyako. Mother's.

Không có khuôn mặt người mẹ. Chỉ có son môi, đồ lót, giày, bàn chải tóc còn vướng sợi tóc. Và từ những vật ấy, một người hiện ra.

Martin Creed. Work No. 227: The lights going on and off.

144 · 2000

Martin Creed. Work No. 227: The lights going on and off.

Không có gì trong phòng. Chỉ có đèn, bật rồi tắt. Và người xem, lần đầu nhận ra mình đang đứng trong một căn phòng.

Mike Nelson. The Coral Reef.

145 · 2000

Mike Nelson. The Coral Reef.

Một cánh cửa dẫn sang một căn phòng khác, rồi một căn khác nữa. Ghế còn đó, giấy tờ còn đó, người thì không. Người xem lạc giữa những đời sống vắng mặt.

Tomoko Yoneda. Scene.

146 · 2000

Tomoko Yoneda. Scene.

Một bãi cát. Một cánh rừng. Một ngọn đồi cỏ yên ả. Tomoko Yoneda chụp những nơi từng có chiến tranh, và để tên ảnh nói phần còn lại.

Tony Oursler. The Influence Machine.

147 · 2000

Tony Oursler. The Influence Machine.

Khuôn mặt hiện trên làn khói, bàn tay gõ lên tường, giọng nói trôi trong công viên tối. Tony Oursler kể lịch sử của những cỗ máy nói thay con người.

Adam Fuss. My Ghost.

148 · 1999

Adam Fuss. My Ghost.

Một làn khói không giữ được hình dạng quá một giây. Adam Fuss để nó chạm vào giấy ảnh, và giữ lại cái giây ấy.

Alec Soth. Sleeping by the Mississippi.

149 · 1999

Alec Soth. Sleeping by the Mississippi.

Một chiếc nhà thuyền ở Winona. Một người đàn ông với mô hình máy bay ở Vasa. Một nghĩa trang ở Fountain City. Con sông nối chúng lại.

An-My Lê. Small Wars.

150 · 1999

An-My Lê. Small Wars.

Những cuối tuần trong rừng Virginia, người Mỹ mặc quân phục cũ và đánh lại một cuộc chiến. An-My Lê chụp họ, trong vai một du kích Việt Cộng.

Andreas Gursky. 99 Cent.

151 · 1999

Andreas Gursky. 99 Cent.

Hàng nghìn món hàng rẻ tiền, xếp ngay ngắn đến tận trần. Nhìn từ xa là một tấm màu. Nhìn gần mới thấy từng gói kẹo.

Janet Cardiff. The Missing Voice (Case Study B).

152 · 1999

Janet Cardiff. The Missing Voice (Case Study B).

Đeo tai nghe, bấm nút, và bước theo một giọng phụ nữ. Janet Cardiff biến một buổi đi bộ ở East London thành một câu chuyện về người mất tích.

Louise Bourgeois. Maman.

153 · 1999

Louise Bourgeois. Maman.

Tám cái chân mảnh, một túi trứng bằng đá hoa, một cái tên gọi mẹ. Maman vừa che chở vừa khiến người ta chùn bước.

Mark Leckey. Fiorucci Made Me Hardcore.

154 · 1999

Mark Leckey. Fiorucci Made Me Hardcore.

Những thân người xoay tròn dưới đèn sàn nhảy, từ cuối thập niên 1960 đến cuối thập niên 1980. Mark Leckey gom chúng lại trước khi internet làm việc đó thay mọi người.

Doris Salcedo. Untitled.

155 · 1998

Doris Salcedo. Untitled.

Một món đồ gỗ trong nhà, bên trong đổ đầy xi măng. Không ngăn nào mở được. Không gì còn chứa được nữa.

Fujiko Nakaya. Fog Sculpture #08025 (F.O.G.).

156 · 1998

Fujiko Nakaya. Fog Sculpture #08025 (F.O.G.).

Mỗi giờ một lần, sương dâng lên từ mặt hồ cạnh bảo tàng, phủ kín rồi tan. Hình dạng của tác phẩm do gió, độ ẩm và nhiệt độ quyết định.

Tomoko Yoneda. Between Visible and Invisible.

157 · 1998

Tomoko Yoneda. Between Visible and Invisible.

Một cặp kính cũ nằm trên trang giấy, và qua mắt kính, vài dòng chữ hiện rõ. Tomoko Yoneda chụp những gì người đeo kính từng đọc.

Trent Parke. Dream/Life.

158 · 1998

Trent Parke. Dream/Life.

Một người đàn ông trú mưa dưới mái hiên. Một nhân viên văn phòng tan vào bóng toà nhà. Sydney trong ảnh Trent Parke vừa thật vừa như giấc mơ.

Boris Mikhailov. Case History.

159 · 1997

Boris Mikhailov. Case History.

Hơn bốn trăm bức ảnh về những người mất nhà ở Kharkiv cuối thập niên 1990. Boris Mikhailov trả tiền cho họ, dàn tư thế, và không cho người xem quay đi.

Edward Burtynsky. Oil.

160 · 1997

Edward Burtynsky. Oil.

Mười hai năm chụp giếng dầu, nhà máy lọc, xa lộ và bãi phá tàu. Dầu không hiện ra trong ảnh. Chỉ có những gì nó làm với mặt đất.

Jenny Holzer. Installation for Bilbao.

161 · 1997

Jenny Holzer. Installation for Bilbao.

Chín cột chữ sáng dựng thẳng giữa một phòng cong của Guggenheim Bilbao. Những dòng chữ chạy không ngừng, nói về một người đã mất, bằng ba thứ tiếng.

Laura Letinsky. Hardly More Than Ever.

162 · 1997

Laura Letinsky. Hardly More Than Ever.

Bữa ăn đã xong, người đã đứng dậy. Letinsky chụp những gì còn lại trên bàn và biến chúng thành tĩnh vật về sự tàn phai.

Pipilotti Rist. Ever Is Over All.

163 · 1997

Pipilotti Rist. Ever Is Over All.

Một phụ nữ váy xanh đi dọc phố, mỉm cười, vung một cành hoa đập vỡ kính ô tô. Bên cạnh, một cánh đồng hoa trôi chậm.

Richard Misrach. Golden Gate.

164 · 1997

Richard Misrach. Golden Gate.

Cùng một cây cầu, cùng một hiên nhà, rất nhiều buổi sáng và buổi chiều. Chỉ có ánh sáng là khác. Misrach ghi lại từng lần.

Samuel Fosso. Tati.

165 · 1997

Samuel Fosso. Tati.

Được mời dựng một studio ảnh trong cửa hàng Tati, Samuel Fosso quay ống kính về phía mình và hoá thân thành mười nhân vật, bằng quần áo mua ngay tại chỗ.

Santu Mofokeng. The Black Photo Album / Look at Me.

166 · 1997

Santu Mofokeng. The Black Photo Album / Look at Me.

Tám mươi slide, chân dung studio của những gia đình da đen Nam Phi, áo vest, váy dài, dáng ngồi chỉn chu. Họ đã chọn cách mình được nhìn thấy.

Susan Derges. River Taw.

167 · 1997

Susan Derges. River Taw.

Một tờ giấy ảnh dài gần hai mét nằm dưới mặt sông trong đêm. Một chớp đèn. Dòng nước tự in mình lên đó.

Wolfgang Tillmans. Concorde Grid.

168 · 1997

Wolfgang Tillmans. Concorde Grid.

56 tấm ảnh, một chiếc máy bay, và người chụp chưa từng ngồi trên nó. Concorde Grid nhìn tốc độ từ dưới đất lên.

Alessandra Sanguinetti. On the Sixth Day.

169 · 1996

Alessandra Sanguinetti. On the Sixth Day.

Thỏ, ngựa, lợn, ngỗng, cừu non, bò. Trên một trang trại gần Buenos Aires, sự sống và cái chết của con vật diễn ra ngay trước mắt người.

Bill Viola. The Crossing.

170 · 1996

Bill Viola. The Crossing.

Một người bước chậm ra từ bóng tối. Ở mặt này, nước từ trên rơi xuống cho tới khi xoá mất anh. Ở mặt kia, lửa bốc lên. Rồi mọi thứ bắt đầu lại.

Dan Flavin. untitled (Marfa project).

171 · 1996

Dan Flavin. untitled (Marfa project).

Sáu toà nhà hình chữ U, mỗi toà hai hành lang, mỗi hành lang một bức vách ánh sáng. Màu đổi dần từ toà này sang toà khác, cho đến khi cả bốn màu gặp nhau.

Mona Hatoum. Present Tense.

172 · 1996

Mona Hatoum. Present Tense.

Hai nghìn hai trăm bánh xà phòng Nablus xếp trên sàn. Những hạt thuỷ tinh đỏ nhỏ vẽ lên đó một đường biên. Xà phòng thì tan, còn mùi thì người ta nhận ra ngay.

Nam June Paik. Electronic Superhighway: Continental U.S., Alaska, Hawaii.

173 · 1995

Nam June Paik. Electronic Superhighway: Continental U.S., Alaska, Hawaii.

Mỗi bang một khung neon, mỗi khung một dòng hình. Nam June Paik vẽ nước Mỹ bằng tivi, vào lúc Internet mới bắt đầu vào nhà.

Naoya Hatakeyama. Blast.

174 · 1995

Naoya Hatakeyama. Blast.

Một vách đá vôi nổ tung, và máy ảnh bấm ở một phần nghìn giây. Đá chưa rơi. Bụi chưa tan. Không mắt người nào kịp thấy cảnh này.

Richard Serra. The Matter of Time.

175 · 1994

Richard Serra. The Matter of Time.

Tám khối thép, một gian phòng dài, và những lối đi lúc hẹp lúc rộng. Richard Serra không cho xem thời gian. Ông cho đi bộ qua nó.

Uta Barth. Ground.

176 · 1994

Uta Barth. Ground.

Máy ảnh lấy nét vào chỗ không có gì. Tường, khung tranh, tủ gỗ đều nhòe. Thứ còn lại là không khí của căn phòng và chính hành vi nhìn.

Zhang Huan. 12 Square Meters.

177 · 1994

Zhang Huan. 12 Square Meters.

Một người đàn ông ngồi yên trong nhà vệ sinh công cộng, người phủ mật ong và dầu cá. Ruồi bâu kín. Một giờ sau, anh bước xuống ao.

Cy Twombly. Quattro Stagioni (A Painting in Four Parts).

178 · 1993

Cy Twombly. Quattro Stagioni (A Painting in Four Parts).

Xuân, hạ, thu, đông trên bốn tấm toan đứng cạnh nhau. Sơn chảy xuống, chữ viết tay, những vệt màu như còn ướt. Twombly vẽ thời gian đi qua một năm và qua một đời người.

Douglas Gordon. 24 Hour Psycho.

179 · 1993

Douglas Gordon. 24 Hour Psycho.

Một bộ phim dài chưa tới hai tiếng, chiếu chậm thành một ngày một đêm. Không ai xem hết. Và có lẽ đó chính là điều Gordon muốn.

Mark Power. The Shipping Forecast.

180 · 1993

Mark Power. The Shipping Forecast.

Dover. Fastnet. German Bight. Những cái tên người Anh nghe trên radio từ bé mà ít ai từng thấy. Mark Power đi đến từng nơi.

Rachel Whiteread. House.

181 · 1993

Rachel Whiteread. House.

Một căn nhà bị lột tường, chỉ còn khối bê tông đúc từ khoảng trống bên trong. House đứng ở East London chưa đầy ba tháng rồi biến mất.

Steve McQueen. Bear.

182 · 1993

Steve McQueen. Bear.

Không có tiếng. Chỉ có hai thân người, một luồng sáng, những ánh mắt. Trong im lặng, người xem bắt đầu nghe thấy hơi thở của chính mình.

Jeff Koons. Puppy.

183 · 1992

Jeff Koons. Puppy.

Khung thép, đất và cây hoa đang nở. Một chú chó con khổng lồ không bao giờ đứng yên, vì bộ lông của nó là thứ còn sống.

Rineke Dijkstra. Beach Portraits.

184 · 1992

Rineke Dijkstra. Beach Portraits.

Một thiếu niên, một bộ đồ bơi, biển và trời phía sau. Không có gì để nấp. Dijkstra chụp khoảnh khắc một cơ thể chưa biết cách đứng.

Abelardo Morell. Camera Obscura.

185 · 1991

Abelardo Morell. Camera Obscura.

Toà nhà Manhattan nằm lộn ngược trên tường một căn phòng trống. Bên ngoài đi vào bên trong, qua một lỗ nhỏ.

Agnes Martin. Untitled #5.

186 · 1991

Agnes Martin. Untitled #5.

Một tấm toan vuông sáu foot, bốn dải xám đậm, những mép hơi run. Một trong những bức tranh xám cuối cùng Agnes Martin vẽ ở Galisteo.

Anya Gallaccio. preserve 'beauty'.

187 · 1991

Anya Gallaccio. preserve 'beauty'.

Hoa tươi ép sau những tấm kính lớn, rồi được để yên cho héo. Tác phẩm không phải bông hoa. Tác phẩm là những tuần hoa đổi màu, đổi mùi.

Cornelia Parker. Cold Dark Matter: An Exploded View.

188 · 1991

Cornelia Parker. Cold Dark Matter: An Exploded View.

Một nhà kho gỗ, những món đồ không nỡ bỏ, một vụ nổ. Rồi từng mảnh cháy xém được treo lên quanh một bóng đèn, và bóng của chúng phủ kín bốn bức tường.

Felix Gonzalez-Torres.

189 · 1991

Felix Gonzalez-Torres. "Untitled" (Portrait of Ross in L.A.).

Một đống kẹo bọc giấy nhiều màu ở góc phòng trưng bày. Mỗi người lấy một viên. Bức chân dung nhỏ đi, rồi được bổ sung.

Naoya Hatakeyama. Lime Works.

190 · 1991

Naoya Hatakeyama. Lime Works.

Những nhà máy vôi và xi măng khắp nước Nhật, chụp lúc trời chưa sáng hẳn. Mọi bề mặt phủ một lớp bụi trắng mịn. Thành phố bắt đầu từ đây.

Susan Hiller. From the Freud Museum.

191 · 1991

Susan Hiller. From the Freud Museum.

Năm mươi chiếc hộp bìa xếp trong tủ kính. Trong mỗi hộp là vài vật nhỏ và một tấm nhãn. Từng thứ tầm thường, nhưng xếp cạnh nhau, chúng thành một bản đồ của ký ức.

Carrie Mae Weems. Kitchen Table Series.

192 · 1990

Carrie Mae Weems. Kitchen Table Series.

Cùng một chiếc bàn, cùng một ngọn đèn, cùng một góc máy. Chỉ có người đến và đi. Chiếc bàn bếp thành sân khấu của cả một đời sống.

Christian Boltanski. The Reserve of Dead Swiss.

193 · 1990

Christian Boltanski. The Reserve of Dead Swiss.

Bốn mươi hai tấm ảnh người đã khuất, không tên, không tiểu sử. Mỗi tấm có một bóng đèn cúi xuống soi. Boltanski gọi đó là một kho dự trữ.

Ilya Kabakov. Labyrinth (My Mother's Album).

194 · 1990

Ilya Kabakov. Labyrinth (My Mother's Album).

Một hành lang hẹp, bảy mươi sáu khung treo dọc tường: ảnh một thị trấn tươi vui, và lời một người mẹ kể điều ngược lại.

Rebecca Horn. Concert for Anarchy.

195 · 1990

Rebecca Horn. Concert for Anarchy.

Một cây đàn piano treo ngược, lặng rất lâu. Rồi nắp bật mở, phím đàn tràn ra, một hợp âm vỡ vang lên. Rồi mọi thứ thu lại như chưa có gì.

Guy Baldwin. On Leather Pants.

196 · 1989

Guy Baldwin. On Leather Pants.

Một chiếc quần da ôm sát, đen, bóng. Với Guy Baldwin, nó không chỉ là trang phục. Nó là một ngôn ngữ, một lớp giáp, một dấu hiệu thuộc về.

Louise Bourgeois. Cell (Eyes and Mirrors).

197 · 1989

Louise Bourgeois. Cell (Eyes and Mirrors).

Một chiếc lồng bằng lưới sắt và cửa kính. Bên trong, đôi mắt đá đen nhìn ra, gương soi lại gương. Người xem đứng ngoài, chỉ được vào bằng mắt.

Robert Gober. Untitled.

198 · 1989

Robert Gober. Untitled.

Ở góc phòng, một cẳng chân người thò ra từ tường: quần vải, tất len, giày da, một mẩu da có lông. Nó bằng sáp. Nó giống thật đến mức người xem lùi lại.

Thomas Struth. Museum Photographs.

199 · 1989

Thomas Struth. Museum Photographs.

Người đứng trước tranh, và người đứng trước ảnh của người đứng trước tranh. Thomas Struth biến việc xem bảo tàng thành đề tài.

Anselm Kiefer. Lilith.

200 · 1987

Anselm Kiefer. Lilith.

Một thành phố nhìn từ trên cao, phủ tro xám, có những sợi dây đồng bám trên mặt toan. Kiefer gọi nó bằng tên một nữ quỷ của đổ nát trong truyền thuyết Do Thái.

Masao Yamamoto. A Box of Ku.

201 · 1987

Masao Yamamoto. A Box of Ku.

Masao Yamamoto in ảnh nhỏ, làm cũ chúng đi, rồi xếp vào một cái hộp. Mỗi tấm là một vật. Cả hộp là một khoảng trống.

Robert Mapplethorpe. Calla Lily.

202 · 1986

Robert Mapplethorpe. Calla Lily.

Một cuống, một cánh cuộn, một nền trơn. Mapplethorpe chụp hoa rum như người ta chụp một pho tượng.

Gretchen Bender. Dumping Core.

203 · 1984

Gretchen Bender. Dumping Core.

Mười ba màn hình cùng nhấp nháy logo, quảng cáo và tin chiến sự. Gretchen Bender cho truyền hình chạy quá tốc độ để người xem thấy nó rõ hơn.

Mierle Laderman Ukeles. Touch Sanitation Show.

204 · 1984

Mierle Laderman Ukeles. Touch Sanitation Show.

Một triển lãm dựng trong trạm trung chuyển rác, sau nhiều năm bắt tay những người giữ cho thành phố sạch.

Peter Fischli và David Weiss. Equilibres (Quiet Afternoon).

205 · 1984

Peter Fischli và David Weiss. Equilibres (Quiet Afternoon).

Một cái muôi, một cái ghế, một chai rượu đứng trên nhau trong vài giây. Rồi đổ. Chỉ bức ảnh còn lại.

Sally Mann. Immediate Family.

206 · 1984

Sally Mann. Immediate Family.

Sally Mann chụp ba đứa con suốt tám năm ở trang trại gia đình. Những bức ảnh vừa gần gũi vừa bất an, và chưa bao giờ thôi gây tranh luận.

Joseph Beuys. The End of the Twentieth Century.

207 · 1983

Joseph Beuys. The End of the Twentieth Century.

Ba mươi mốt khối đá bazan nằm ngổn ngang trên sàn. Mỗi khối bị khoét một lỗ hình nón, lót nỉ và đất sét, rồi nút đá được đặt trở lại.

Larry Sultan. Pictures from Home.

208 · 1983

Larry Sultan. Pictures from Home.

Một người con về nhà với chiếc máy ảnh. Cha mẹ anh vừa là người mẫu, vừa là người phản biện. Ký ức gia đình hoá ra được dựng lên như thế nào?

Martin Parr. The Last Resort.

209 · 1983

Martin Parr. The Last Resort.

Trẻ con khóc, rác trên cát, người nằm phơi nắng trên nền bê tông. Martin Parr chụp một bãi biển nghỉ mát bằng màu thật đậm và ánh đèn flash.

Tunga. Trança.

210 · 1983

Tunga. Trança.

Tóc thì nhẹ, chì thì nặng. Tunga tết chì thành một bím tóc dài, và để người xem đứng giữa hai cảm giác không chịu nhường nhau.

Jo Spence. The Picture of Health?

211 · 1982

Jo Spence. The Picture of Health?

Một người phụ nữ bước vào bệnh viện và mang theo máy ảnh. Jo Spence chụp cơ thể mình để hỏi lại: ai được quyền nhìn, và ai được quyền kể.

Sophie Calle. The Hotel.

212 · 1981

Sophie Calle. The Hotel.

Chiếc giường chưa dọn, lọ nước hoa trên bồn rửa, lá thư trong vali. Người ở phòng đã ra ngoài. Đồ đạc thì ở lại.

Antony Gormley. Bed.

213 · 1980

Antony Gormley. Bed.

Một khối bánh mì xếp lớp, ngâm sáp. Ở giữa là hai khoảng trống hình người nằm, được tạo ra bằng cách ăn. Bed là một chân dung vẽ bằng phần thiếu.

Donald Judd. 15 untitled works in concrete.

214 · 1980

Donald Judd. 15 untitled works in concrete.

Những hộp bê tông rỗng cùng một kích thước, xếp thành hàng trên đồng cỏ. Mỗi giờ trong ngày, bóng đổ vẽ lại chúng một lần.

Giuseppe Penone. Tree of 12 Metres.

215 · 1980

Giuseppe Penone. Tree of 12 Metres.

Một thanh gỗ xẻ vuông vức. Penone gọt dần từng vòng tuổi, lần theo mắt gỗ, cho đến khi cái cây thuở nhỏ hiện ra trong lòng thanh gỗ.

Hiroshi Sugimoto. Seascapes.

216 · 1980

Hiroshi Sugimoto. Seascapes.

Một đường chân trời, nửa trên là trời, nửa dưới là biển. Sugimoto lặp lại khung hình ấy khắp thế giới suốt bốn thập kỷ.

Roni Horn. Gold Field.

217 · 1980

Roni Horn. Gold Field.

Một tấm vàng nguyên chất, gần như không có độ dày, đặt thẳng trên sàn. Không bệ, không khung, không kể chuyện.

Tehching Hsieh. One Year Performance.

218 · 1980

Tehching Hsieh. One Year Performance.

Mỗi giờ một lần bấm thẻ, mỗi lần bấm một tấm ảnh, suốt một năm. Tóc mọc dài ra là chiếc đồng hồ thứ hai.

Graciela Iturbide. Juchitán de las Mujeres.

219 · 1979

Graciela Iturbide. Juchitán de las Mujeres.

Một người phụ nữ đội vương miện bằng những con kỳ nhông còn sống. Graciela Iturbide chụp Juchitán qua những người phụ nữ giữ nhịp sống của nó.

Nan Goldin. The Ballad of Sexual Dependency.

220 · 1979

Nan Goldin. The Ballad of Sexual Dependency.

Những căn phòng, những quán bar, những chiếc giường, những khuôn mặt thân quen. Mỗi ảnh hiện vài giây rồi nhường chỗ, theo tiếng nhạc.

Richard Misrach. Desert Cantos.

221 · 1979

Richard Misrach. Desert Cantos.

Sa mạc trông trống rỗng. Nhìn kỹ thì không. Misrach dành hơn bốn mươi năm chụp những gì con người để lại trên đất khô.

Sophie Calle. The Sleepers.

222 · 1979

Sophie Calle. The Sleepers.

Tám ngày, hai mươi bảy người, một chiếc giường không lúc nào trống. Sophie Calle ngồi bên cạnh, chụp mỗi giờ một lần, và nhìn người lạ ngủ.

Dara Birnbaum. Technology/Transformation: Wonder Woman.

223 · 1978

Dara Birnbaum. Technology/Transformation: Wonder Woman.

Một vụ nổ, một vòng xoay, một nữ anh hùng. Birnbaum lấy vài giây truyền hình và lặp lại cho tới khi phép màu lộ ra cái khung của nó.

Gabriele Basilico. Milano. Ritratti di fabbriche.

224 · 1978

Gabriele Basilico. Milano. Ritratti di fabbriche.

Những ngày lễ vắng người, nắng gắt, bóng đổ sắc. Gabriele Basilico đi khắp vùng công nghiệp Milano và chụp từng nhà máy như chụp một khuôn mặt.

Joel Sternfeld. American Prospects.

225 · 1978

Joel Sternfeld. American Prospects.

Một căn nhà đang cháy, một lính cứu hoả chọn bí ngô ở sạp bên đường. Sternfeld không dàn dựng. Ông chỉ đứng đủ xa để thấy cả hai.

Magdalena Abakanowicz. Embryology.

226 · 1978

Magdalena Abakanowicz. Embryology.

Những khối vải bố được bó, buộc, khâu thành hình tròn mềm, nằm trên sàn như kén, như trứng, như cơ quan của một cơ thể chưa có tên.

Mario Merz. Igloo, Do We Go Around Houses, or Do Houses Go Around Us?

227 · 1977

Mario Merz. Igloo, Do We Go Around Houses, or Do Houses Go Around Us?

Sáu mươi lăm phiến đá xoáy quanh một khung thép. Bảy mươi tư tấm kính vỡ, bẩn, không được phép lau. Và một câu hỏi: ta đi quanh nhà, hay nhà đi quanh ta?

Mike Mandel và Larry Sultan. Evidence.

228 · 1977

Mike Mandel và Larry Sultan. Evidence.

Năm mươi chín tấm ảnh lấy từ kho lưu trữ, không một dòng chú thích. Những bằng chứng khách quan bỗng thành câu đố.

Hiroshi Sugimoto. Dioramas.

229 · 1976

Hiroshi Sugimoto. Dioramas.

Con thú nhồi bông, nền trời vẽ, cỏ nhựa. Qua ống kính của Sugimoto, tất cả trở thành một khoảnh khắc sống giữa thiên nhiên.

Hiroshi Sugimoto. Theaters.

230 · 1976

Hiroshi Sugimoto. Theaters.

Hai tiếng phim, một lần phơi sáng. Mọi hình ảnh cộng lại thành một khối sáng trắng, và căn phòng quanh nó hiện ra từ chính ánh sáng ấy.

Peter Hujar. Portraits in Life and Death.

231 · 1976

Peter Hujar. Portraits in Life and Death.

Hai mươi chín người bạn nằm nghỉ trước ống kính. Sau họ là những xác ướp trong hầm mộ Palermo. Cuốn sách duy nhất Peter Hujar làm lúc sinh thời.

Sunil Gupta. Christopher Street.

232 · 1976

Sunil Gupta. Christopher Street.

Sáu mươi tấm ảnh chụp trên một con phố ở New York năm 1976. Đàn ông đứng, đi, nhìn nhau giữa ban ngày. Một con phố được ghi lại trước khi nó đổi khác.

Francesca Woodman. Space².

233 · 1975

Francesca Woodman. Space².

Một cô sinh viên nhiếp ảnh chui vào tủ kính bảo tàng và bấm máy. Cơ thể nhoè đi. Căn phòng thì ở lại, rõ nét.

Martha Rosler. Semiotics of the Kitchen.

234 · 1975

Martha Rosler. Semiotics of the Kitchen.

Rosler cầm từng dụng cụ bếp lên, gọi tên, rồi dùng nó sai cách. Sáu phút video đen trắng, và căn bếp không còn là nơi yên ổn.

Masahisa Fukase. Karasu.

235 · 1975

Masahisa Fukase. Karasu.

Bảy năm chụp quạ. Ảnh tối, hạt thô, tuyết và cánh đen. Masahisa Fukase gọi đó là loạt ảnh về chính mình.

Nicholas Nixon. The Brown Sisters.

236 · 1975

Nicholas Nixon. The Brown Sisters.

Bốn chị em, một thứ tự không đổi, một tấm ảnh mỗi năm. Qua hơn bốn mươi năm, thứ duy nhất thay đổi là thời gian trên gương mặt họ.

Tony Cragg. Stack.

237 · 1975

Tony Cragg. Stack.

Một khối lập phương xếp từ gạch vụn, gỗ thừa, tạp chí cũ. Nhìn vào cạnh khối, ta thấy từng tầng, như vách đất ở một công trường đào.

Lewis Baltz. The New Industrial Parks near Irvine, California.

238 · 1974

Lewis Baltz. The New Industrial Parks near Irvine, California.

Mặt tiền nhà xưởng, chụp thẳng, không người, không bóng đổ kịch tính. Không có gì để nhìn, và chính vì thế phải nhìn thật kỹ.

Marina Abramović. Rhythm 0.

239 · 1974

Marina Abramović. Rhythm 0.

Một chiếc bàn, bảy mươi hai đồ vật, một người phụ nữ đứng yên suốt sáu giờ. Rhythm 0 không đo sức chịu đựng của nghệ sĩ. Nó đo những người đứng xem.

Nam June Paik. TV Garden.

240 · 1974

Nam June Paik. TV Garden.

Cây thật, lá thật, đất thật. Giữa chúng, những màn hình đủ cỡ nhấp nháy cùng một đoạn băng. Một khu vườn mà thứ nở hoa là ánh sáng.

Robert Adams. The New West.

241 · 1974

Robert Adams. The New West.

Không có hẻm núi hùng vĩ, không có hoàng hôn đỏ. Chỉ có mái nhà, cột điện, đường ủi, và dãy núi vẫn đứng phía sau. Miền Tây như nó đang là.

Chris Killip. In Flagrante.

242 · 1973

Chris Killip. In Flagrante.

Người nhặt than trên bãi biển, làng chài bên vách đá, những con phố sau khi xưởng đóng cửa. Chris Killip chụp Đông Bắc nước Anh trong mười mấy năm.

Nancy Holt. Sun Tunnels.

243 · 1973

Nancy Holt. Sun Tunnels.

Bốn ống bê tông xếp hình chữ X giữa sa mạc. Hai ngày trong năm, mặt trời mọc và lặn ngay trong lòng ống. Những ngày còn lại, ánh sáng đi qua các lỗ nhỏ.

Stephen Shore. Uncommon Places.

244 · 1973

Stephen Shore. Uncommon Places.

Một ngã tư ở Los Angeles. Một bữa sáng trên bàn quán ăn. Một phòng nhà nghỉ. Không có gì đặc biệt, được chụp với độ chính xác cao nhất.

Bernd Becher và Hilla Becher. Water Towers.

245 · 1972

Bernd Becher và Hilla Becher. Water Towers.

Chín tháp nước, cùng góc chụp, cùng ánh sáng xám, xếp cạnh nhau. Nhìn lâu, ta bắt đầu thấy từng cái khác nhau ở đâu.

Irving Penn. Cigarettes.

246 · 1972

Irving Penn. Cigarettes.

Những mẩu thuốc lá dẹp, cháy dở, nhặt từ vỉa hè New York. Penn chụp chúng lớn như tượng và in bằng kim loại quý.

Claudia Andujar. The Yanomami.

247 · 1971

Claudia Andujar. The Yanomami.

Vaseline bôi lên ống kính, ngọn đèn dầu, phim hồng ngoại. Claudia Andujar tìm cách chụp thứ không nhìn thấy được: giấc mơ và thế giới tinh thần của người Yanomami.

Daido Moriyama. Stray Dog, Misawa.

248 · 1971

Daido Moriyama. Stray Dog, Misawa.

Lông rối, mắt cảnh giác, đứng giữa đường và ngoái lại. Một buổi sáng năm 1971, Moriyama gặp con chó ấy, và nhận ra chính mình.

Luigi Ghirri. Kodachrome.

249 · 1971

Luigi Ghirri. Kodachrome.

Một tấm áp phích che nửa bầu trời. Một tấm bản đồ thay cho phong cảnh. Ghirri chụp những lớp hình ảnh mà ta sống giữa chúng mà không để ý.

Masahisa Fukase. Family.

250 · 1971

Masahisa Fukase. Family.

Masahisa Fukase chụp gia đình mình trong studio của cha, năm này qua năm khác, cho đến khi không còn ai để đứng trước phông nền.

Diane Arbus. A box of ten photographs.

251 · 1970

Diane Arbus. A box of ten photographs.

Mười tấm ảnh, một chiếc hộp trong suốt, năm mươi bộ dự định và chỉ bốn bộ bán được khi bà còn sống. Arbus tự chọn điều gì đáng được giữ.

Ralph Eugene Meatyard. The Family Album of Lucybelle Crater.

252 · 1970

Ralph Eugene Meatyard. The Family Album of Lucybelle Crater.

Một album gia đình mà mọi người đều đeo mặt nạ và đều mang chung một cái tên. Meatyard hỏi: ta nhận ra người thân bằng gì?

Robert Smithson. Spiral Jetty.

253 · 1970

Robert Smithson. Spiral Jetty.

Tháng Tư năm 1970, Robert Smithson cho đổ hơn sáu nghìn tấn đá bazan đen vào hồ muối ở Utah, thành một vòng xoắn ngược chiều kim đồng hồ. Từ đó, nước, muối và thời gian làm phần còn lại.

Lynda Benglis. Quartered Meteor.

254 · 1969

Lynda Benglis. Quartered Meteor.

Một dòng vật liệu được đổ ra năm 1969, rồi sáu năm sau được đúc bằng chì. Cái đang chảy bị giữ lại, nặng và im.

Jannis Kounellis. Untitled.

255 · 1968

Jannis Kounellis. Untitled.

Hai cột gỗ tựa vào tường, len thô vắt trên bốn thanh ngang. Kounellis bỏ hội hoạ, nhưng vẫn làm một bức tranh, bằng lông cừu.

Josef Koudelka. Exiles.

256 · 1968

Josef Koudelka. Exiles.

Một túi ngủ, một đôi giày, một chiếc máy ảnh. Mười lăm năm không nhà. Exiles là những gì còn lại từ đó.

Pino Pascali. Trappola.

257 · 1968

Pino Pascali. Trappola.

Năm 1968, Pino Pascali lấy thứ len thép người ta dùng để cọ nồi, làm thành một chiếc bẫy cao bốn mét. Nó treo lơ lửng, xoè ra trên sàn, vừa như lưới cá vừa như một chiếc váy.

Eva Hesse. Addendum.

258 · 1967

Eva Hesse. Addendum.

Phía trên là một dãy số được tính kỹ. Phía dưới là những sợi dây rơi tự do, cuộn vào nhau trên sàn. Hesse đặt cả hai vào một tác phẩm.

Irving Penn. Flowers.

259 · 1967

Irving Penn. Flowers.

Một bông tulip cánh xoè rũ, một bông anh túc sắp rụng. Penn chụp hoa không ở lúc đẹp nhất, mà ở lúc chúng thật nhất.

Michelangelo Pistoletto. Venus of the Rags.

260 · 1967

Michelangelo Pistoletto. Venus of the Rags.

Tượng thần Vệ Nữ quay lưng lại phía người xem, mặt áp vào một đống quần áo cũ nhiều màu. Cái bất biến đứng sát cái bị bỏ đi.

Carl Andre. Equivalent VIII.

261 · 1966

Carl Andre. Equivalent VIII.

Một trăm hai mươi viên gạch chịu lửa, hai lớp, nằm phẳng trên sàn. Không bệ, không chạm khắc. Câu hỏi là: ta nhìn thấy gì ở đó?

Dan Flavin. 'monument' for V. Tatlin.

262 · 1966

Dan Flavin. 'monument' for V. Tatlin.

Những ống đèn trắng loại dùng trong văn phòng, xếp cao dần vào giữa như một toà tháp. Dan Flavin gọi nó là tượng đài, trong ngoặc kép.

Hélio Oiticica. Tropicália, Penetrables PN 2 'Purity is a myth' and PN 3 'Imagetical'.

263 · 1966

Hélio Oiticica. Tropicália, Penetrables PN 2 'Purity is a myth' and PN 3 'Imagetical'.

Một lối đi có cát, sỏi, cây và lều vải, nơi khách bỏ giày ra để bước vào. Tropicália của Oiticica đòi người xem dùng chân, tay, mũi, và đặt tên cho cả một phong trào ở Brazil.

Eikoh Hosoe. Kamaitachi.

264 · 1965

Eikoh Hosoe. Kamaitachi.

Một vũ công chạy qua cánh đồng lúa, nhảy lên, nấp sau vách nhà. Hosoe chụp một truyền thuyết từ tuổi thơ mình ở vùng quê Tohoku.

Joseph Kosuth. Clock (One and Five), English/Latin Version.

265 · 1965

Joseph Kosuth. Clock (One and Five), English/Latin Version.

Một đồng hồ treo tường, một tấm ảnh của nó, vài trang định nghĩa bằng tiếng Anh và tiếng Latin. Kosuth đặt chúng thành một hàng và để người xem tự hỏi vật thật nằm ở đâu.

Robert Morris. Untitled.

266 · 1965

Robert Morris. Untitled.

Bốn khối vuông bọc gương, mỗi khối gần một mét. Chúng không có màu riêng. Chúng lấy màu của sàn, của tường, của người đang đi quanh.

Roman Opałka. Détail 1520432 đến 1537871.

267 · 1965

Roman Opałka. Détail 1520432 đến 1537871.

Một tấm toan phủ kín những con số nhỏ màu trắng, từ 1520432 đến 1537871. Không hình, không màu khác. Chỉ là một đoạn trong một phép đếm dài bằng cả đời người.

Marcel Broodthaers. Casserole and Closed Mussels.

268 · 1964

Marcel Broodthaers. Casserole and Closed Mussels.

Một cái nồi gang quai gỗ. Vỏ vẹm chất cao đến mức nắp bị đội lên. Không có gì để ăn, chỉ còn vỏ, và một câu hỏi về thứ ta gọi là tác phẩm.

Mark Rothko. Rothko Chapel.

269 · 1964

Mark Rothko. Rothko Chapel.

Một căn phòng ở Houston với mười bốn bức tranh gần như đen, sáng lên nhờ ánh trời. Rothko hoàn thành chúng năm 1967 nhưng không kịp thấy chúng được treo.

Lee Friedlander. Self-Portraits.

270 · 1963

Lee Friedlander. Self-Portraits.

Bóng đổ trên vỉa hè, hình phản chiếu trong cửa kính, một nửa khuôn mặt ở mép khung. Lee Friedlander tự chụp mình suốt hơn sáu mươi năm, hiếm khi trọn vẹn.

Gustav Metzger. Recreation of First Public Demonstration of Auto-Destructive Art.

271 · 1960

Gustav Metzger. Recreation of First Public Demonstration of Auto-Destructive Art.

Một tấm nylon căng trên khung. Axit chạm vào, và vải bắt đầu thủng. Hình được tạo ra bằng chính việc vật liệu biến mất.

Piero Manzoni. Artist's Breath.

272 · 1960

Piero Manzoni. Artist's Breath.

Manzoni thổi hơi vào quả bóng và gắn nó lên đế gỗ. Hơi thở đã đi. Còn lại một mảnh cao su nhăn, dính chặt vào gỗ.

Yves Klein. IKB 79.

273 · 1959

Yves Klein. IKB 79.

Không hình, không nét, không tên. Chỉ một màu xanh phủ kín toàn bộ bề mặt. Klein muốn người xem đứng trước màu ấy như đứng trước một khoảng không.

Mark Rothko. Black on Maroon.

274 · 1958

Mark Rothko. Black on Maroon.

Một tấm toan ngang hơn bốn mét rưỡi, đen trên nền đỏ sẫm. Rothko vẽ nó cho nhà hàng Four Seasons, rồi quyết định nó không thuộc về nơi ấy.

Henri Matisse. The Snail.

275 · 1953

Henri Matisse. The Snail.

Matisse cầm con ốc giữa hai ngón tay, vẽ đi vẽ lại. Rồi ông bỏ cái vỏ, giữ lại vòng xoắn, và cầm kéo lên.

Vivian Maier. Self-portraits.

276 · 1953

Vivian Maier. Self-portraits.

Một bóng người đổ trên vỉa hè, một gương mặt trong kính cửa hiệu. Vivian Maier chụp mình nhiều lần, nhưng hiếm khi chụp thẳng.

Barnett Newman. Adam.

277 · 1951

Barnett Newman. Adam.

Một nền nâu đất cao hơn hai mét, ba dải đỏ chạy dọc. Newman gọi nó là Adam, cái tên trong tiếng Do Thái gần với đất và với màu đỏ.

Jackson Pollock. Summertime: Number 9A.

278 · 1948

Jackson Pollock. Summertime: Number 9A.

Một tấm toan dài hơn năm mét, trải dưới sàn. Sơn nhỏ giọt, sơn rót, sơn văng. Summertime không vẽ mùa hè, nó giữ lại nhịp của một thân người.

Alberto Giacometti. Man Pointing.

279 · 1947

Alberto Giacometti. Man Pointing.

Giacometti nặn lại Man Pointing trong một đêm, từ nửa đêm tới chín giờ sáng. Khi thợ đúc tới lấy, thạch cao vẫn còn ướt. Người đàn ông ấy chỉ về đâu, không ai biết.

Christian Dior. Bar Suit.

280 · 1947

Christian Dior. Bar Suit.

Áo lụa tussore ôm eo, váy len xếp nếp đặt trên váy lót cứng. Dáng người đã được may sẵn vào trong bộ đồ, trước khi có ai mặc.

Barbara Hepworth. Pelagos.

281 · 1946

Barbara Hepworth. Pelagos.

Một khối gỗ du được khoét rỗng thành hai cánh tay cuộn vào nhau, lòng sơn xanh nhạt, căng những sợi dây. Hepworth gọi nó là biển.

Constantin Brâncuși. Le roi des rois.

282 · 1938

Constantin Brâncuși. Le roi des rois.

Một tượng gỗ sồi cao hơn ba mét, làm cho một ngôi đền không bao giờ được xây. Ngôi đền mất, tượng còn, và tượng mang theo cả căn phòng ấy.

Henry Moore. Recumbent Figure.

283 · 1938

Henry Moore. Recumbent Figure.

Moore được mời đặt một bức tượng trước một ngôi nhà dài và thấp. Ông không dựng một hình đứng. Ông tạc một hình nằm, để nó nhìn ra đường chân trời.

Pablo Picasso. Femme en pleurs.

284 · 1937

Pablo Picasso. Femme en pleurs.

Một người phụ nữ khóc, vẽ bằng những màu tươi nhất trên bảng màu. Picasso không làm nỗi đau tối lại. Ông làm nó chói lên.

Pablo Picasso. Guernica.

285 · 1937

Pablo Picasso. Guernica.

Gần tám mét toan, không một mảng màu. Guernica được vẽ trong hơn một tháng, rồi chờ hơn bốn mươi năm mới về tới nơi nó thuộc về.

Salvador Dalí. Métamorphose de Narcisse.

286 · 1937

Salvador Dalí. Métamorphose de Narcisse.

Hai hình giống nhau đặt cạnh nhau: một người cúi soi bóng, một bàn tay đá cầm quả trứng. Nhìn lâu, người biến thành tay, và từ trứng mọc lên một bông hoa.

Piet Mondrian. Composition C (No.III) with Red, Yellow and Blue.

287 · 1935

Piet Mondrian. Composition C (No.III) with Red, Yellow and Blue.

Một tấm toan gần vuông, vài đường đen, vài ô trắng, một chút đỏ, vàng, xanh. Mondrian dùng ít đến mức mỗi yếu tố đều phải gánh phần của nó.

Jean Arp. According to the Laws of Chance.

288 · 1933

Jean Arp. According to the Laws of Chance.

Arp từng cắt giấy bằng kéo, mài mép cho thật phẳng. Rồi ông thấy những tấm cắt dán cũ mốc meo trên gác xép, và bắt đầu xé.

René Magritte. L'Homme au journal.

289 · 1928

René Magritte. L'Homme au journal.

Cùng một căn phòng, lặp lại bốn lần. Lần đầu có một người đọc báo. Ba lần sau, người ấy không còn. Không có gì khác thay đổi.

László Moholy-Nagy. K VII.

290 · 1922

László Moholy-Nagy. K VII.

Những thanh đen, những mảng xám trong suốt, một nền sáng. K VII không vẽ vật nào. Nó dựng ánh sáng như dựng một công trình.

Piet Mondrian. Tableau 2.

291 · 1922

Piet Mondrian. Tableau 2.

Một tấm toan gần vuông, lưới đường đen, vài ô màu cơ bản. Năm 1922, Mondrian đã bớt thế giới xuống còn đường thẳng, góc vuông và sự cân bằng.

Man Ray. Cadeau.

292 · 1921

Man Ray. Cadeau.

Chiếc bàn là vẫn nặng, vẫn lạnh, vẫn có tay cầm. Chỉ thêm một hàng đinh, và nó không còn là đồ dùng trong nhà nữa.

Max Ernst. Celebes.

293 · 1921

Max Ernst. Celebes.

Một bồ chứa ngô bằng đất sét, chụp trong một tạp chí nhân học. Max Ernst thêm vòi, thêm sừng, thêm một con mắt, và nó thành quái vật.

Paul Strand, Charles Sheeler. Manhatta.

294 · 1921

Paul Strand, Charles Sheeler. Manhatta.

Một chuyến phà lúc sáng, khói và hơi nước giữa các toà nhà, một hoàng hôn trên nóc nhà. Manhatta ghi một ngày của thành phố mà không cần lời thoại.

Marcel Duchamp. Fountain.

295 · 1917

Marcel Duchamp. Fountain.

Duchamp không làm ra chiếc bồn tiểu. Ông chọn nó, xoay nó, ký một cái tên giả. Bản gốc đã mất. Thứ còn lại là một tấm ảnh và những bản sao.

Naum Gabo. Head No. 2.

296 · 1916

Naum Gabo. Head No. 2.

Không đục vào khối, không nặn đất. Gabo dựng một cái đầu từ những mặt phẳng mỏng, và để không gian bên trong trở thành chất liệu.

Kazimir Malevich. Black Square.

297 · 1915

Kazimir Malevich. Black Square.

Một hình vuông đen, treo chéo ở góc phòng. Malevich gọi đó là điểm khởi đầu. Tia X cho thấy bên dưới lớp đen còn một bức tranh khác.

Kazimir Malevich. Dynamic Suprematism.

298 · 1915

Kazimir Malevich. Dynamic Suprematism.

Không có vật nào trong tranh. Chỉ có màu, hình, và khoảng trắng để chúng chuyển động. Malevich vẽ thẳng lên toan, không một nét phác.

Marcel Duchamp, Richard Hamilton. The Bride Stripped Bare by Her Bachelors, Even (The Large Glass).

299 · 1915

Marcel Duchamp, Richard Hamilton. The Bride Stripped Bare by Her Bachelors, Even (The Large Glass).

Bản gốc nứt vỡ và đang ở Philadelphia. Bản ở Tate được dựng lại từ những mẩu ghi chép, bằng dầu, chì, bụi và vecni trên kính.

Giorgio de Chirico. The Uncertainty of the Poet.

300 · 1913

Giorgio de Chirico. The Uncertainty of the Poet.

Một pho tượng thạch cao không đầu, một nải chuối vàng, một dãy vòm đổ bóng và đoàn tàu xa. De Chirico đặt chúng cạnh nhau năm 1913 và để người xem tự hỏi vì sao.

Jacob Epstein. Torso in Metal from 'The Rock Drill'.

301 · 1913

Jacob Epstein. Torso in Metal from 'The Rock Drill'.

Năm 1915, một người máy bằng thạch cao cưỡi trên chiếc máy khoan đá thật. Sau chiến tranh, Epstein bỏ máy khoan, cắt ngang thân tượng, và đúc phần còn lại bằng đồng.

Marc Chagall. Paris through the Window.

302 · 1913

Marc Chagall. Paris through the Window.

Một khung cửa sổ tám ô, một con mèo mặt người, một người đàn ông hai mặt. Chagall vẽ Paris năm 1913, và mang theo cả quê nhà Vitebsk vào trong tranh.

Sonia Delaunay, Blaise Cendrars. La Prose du Transsibérien et de la petite Jehanne de France.

303 · 1913

Sonia Delaunay, Blaise Cendrars. La Prose du Transsibérien et de la petite Jehanne de France.

Hai mươi hai nếp gấp, một bài thơ về chuyến tàu băng qua Siberia, và những mảng màu không minh hoạ mà đi cùng chữ. Cuốn sách chỉ đọc được khi mở hết ra.

Umberto Boccioni. Unique Forms of Continuity in Space.

304 · 1913

Umberto Boccioni. Unique Forms of Continuity in Space.

Boccioni nặn nó bằng thạch cao năm 1913. Ông không sống để thấy nó thành đồng. Tượng tồn tại vì có người nhặt từng mảnh vỡ và dán lại.

Georges Braque. Clarinet and Bottle of Rum on a Mantelpiece.

305 · 1911

Georges Braque. Clarinet and Bottle of Rum on a Mantelpiece.

Một cây kèn nằm ngang, ba chữ RHU trên thân chai, chữ VALSE bên dưới. Braque vẽ các vật, và vẽ cả khoảng trống giữa chúng.

Robert Delaunay. Red Eiffel Tower.

306 · 1911

Robert Delaunay. Red Eiffel Tower.

Một ngọn tháp đỏ vươn khỏi mép toan, hai chân tháp như đang bước. Delaunay tháo rời tháp Eiffel để nhìn nó từ mọi phía cùng một lúc.

Wassily Kandinsky. Cosaques.

307 · 1910

Wassily Kandinsky. Cosaques.

Vẫn còn những chiếc mũ đỏ, những cây giáo, một cầu vồng. Nhưng chúng đang tan ra. Cossacks là bức tranh đứng ở mép của trừu tượng.

Edvard Munch. The Scream.

308 · 1893

Edvard Munch. The Scream.

Tempera, bút sáp, một tấm bìa cứng. Một hình người ôm mặt trên con đường ven vịnh. Không ai nghe được tiếng kêu ấy, nhưng ai nhìn cũng biết nó có thật.

Arthur Jafa. APEX.

309 · —

Arthur Jafa. APEX.

Mấy chục năm cắt ảnh từ báo và tạp chí, rồi dồn tất cả vào tám phút video. APEX của Arthur Jafa là nơi các hình ảnh chồng lên nhau.

Bộ jumpsuit.

310 · —

Bộ jumpsuit.

Một mảnh vải liền từ cổ tới cổ chân. Bộ jumpsuit đi qua xưởng máy, chiến tranh, cách mạng, rồi tới sàn nhảy, và mỗi lần lại mang một nghĩa khác.

Fashion as Design.

311 · —

Fashion as Design.

Ai cũng mặc một thứ gì đó. Fashion as Design đặt câu hỏi: thứ ta mặc được làm ra thế nào, và nó nói gì về người mặc?

Hippolyte Blancard. The Platinum Print.

312 · —

Hippolyte Blancard. The Platinum Print.

Từ năm 1887 đến 1889, dược sĩ Hippolyte Blancard chụp tháp Eiffel đang dựng, tháng này qua tháng khác, rồi in bằng platinum, loại bản in gần như không phai.

Nghệ thuật hiện đại là gì.

313 · —

Nghệ thuật hiện đại là gì.

Thành phố lớn lên, nhà máy mọc lên, máy ảnh ra đời. Nghệ sĩ thôi chép lại thế giới. Họ bắt đầu vẽ cách mình nhìn nó.

Nghệ thuật đương đại là gì.

314 · —

Nghệ thuật đương đại là gì.

Nghệ thuật đương đại không có một định nghĩa. Nó là tranh, là video, là một căn phòng, là một người ngồi im. Điều chung là nó hỏi nhiều hơn trả lời.

Nhiếp ảnh như nghệ thuật.

315 · —

Nhiếp ảnh như nghệ thuật.

Máy ảnh ghi lại mọi thứ trước ống kính. Người chụp thì không. Nhiếp ảnh trở thành nghệ thuật ở chỗ nó chọn nhìn gì và bỏ gì.

Rael San Fratello. Teeter Totter Wall.

316 · —

Rael San Fratello. Teeter Totter Wall.

Một ý tưởng vẽ trên giấy, mười năm sau thành ba chiếc bập bênh màu hồng xuyên qua bức tường biên giới. Chưa đầy một giờ, trẻ em hai phía chơi cùng nhau.

Áo đấu thể thao.

317 · —

Áo đấu thể thao.

Một chiếc áo có số, có tên đội. Từng là đồng phục, giờ là cách người ta nói mình là ai. Chiếc áo đi từ sân cỏ ra phố như thế nào.